Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP THUC THỊ PHÁP LUAT 1. HO TRỢ DOANH NGHIỆP THUC THI PHÁP LUẬT - NHU CẦU BỨC THIẾT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Về khái niệm thực thi pháp luật của doanh nghiệp Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là một nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội [33, tr. Được coi là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của nó trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và đảm bảo thực hiện trong cuộc sống.
Thực hiện pháp luật, theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Với sự phong phú của các quy phạm pháp luật, cách thức thể hiện chúng cũng rất phong phú, đa dạng. Thực hiện pháp luật có những hình thức sau: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật (còn gọi là chấp hành pháp luật), sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiểm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm; Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực; Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể thực hiện).
Còn áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm đứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong số những hình thức trên, nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉ dành cho cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền. La một trong những chủ thể pháp luật, chủ thể của những quan hệ pháp luật rất quan trọng trong đời sống xã hội và của nền kinh tế, doanh nghiệp là đối tượng ít nhiều sẽ thực hiện pháp luật dưới ba hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật. Như vậy, sẽ là không chính xác về mặt lý luận nếu chúng ta nói doanh nghiệp “thực hiện pháp luật” và sẽ không đầy đủ nếu chỉ đề cập đến một hình thức thực hiện pháp luật trong quá trình tồn tại, phát triển của đời sống doanh nghiệp là thi hành, tuân thủ, hay sử dụng pháp luật.
Tựu chung lại, doanh nghiệp sẽ thực hiện những quyền, tự do pháp lý theo ý chí của mình và phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý của mình bằng những hành động tích cực, không tiến hành những hành động mà pháp luật ngăn cấm. Chúng tôi gọi chung là hành động thực thi pháp luật của doanh nghiệp. Khái niệm thực thi pháp luật chúng tôi đề cập trong công trình này có nghĩa là: hoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện những quyền, tự do pháp lý và thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp trên cơ sở các quy định của pháp luật. Sự cần thiết phải dat ra vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp thực thi pháp luật Sự hỗ trợ của nhà nước mâu thuẫn với các nguyên tắc của cái gọi là nền kinh tế thị trường mở cửa với đặc trưng cạnh tranh tự do.
Tuy nhiên, ở nhiều nước, sự hỗ trợ này tồn tại dưới các dạng khác nhau và chúng được coi là được phép, bởi người ta cho rằng chúng không gây tác động xấu một cách đáng kể đến cạnh tranh và thương mai [27]. Chúng tôi đưa ra quan điểm nay để thấy rằng, vấn dé hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tồn tại của nó dường như được các Nhà nước xác định như một hoạt động tất yếu và những phân tích sau lý giải cho câu hỏi vì sao phải dat ra vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp thực thi pháp luật. Trước hết, hãy xuất phát từ thực trạng vi phạm pháp luật trong hoạt động của doanh nghiệp. Theo báo cáo của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án 2006, năm 2006 toàn ngành đã thụ lý mới 2233 vu án kinh doanh, thương mại, tăng 1085 vụ so với năm 2005 (1148 vụ) bằng 95%.
Con số này không khỏi làm chúng ta giật mình bởi dường như, các hoạt động kinh doanh thương mại càng gia tăng, càng nhiều doanh nghiệp được tổ chức và hoạt động thì các tranh chấp cũng tăng lên đáng kể. Lẽ di nhiên. không phải trong mọi trường hợp bị don trong cuộc tranh chấp kiện tụng cũng luôn là bên vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nhưng con số nêu trên cho thấy rõ ràng một thực tế là các doanh nghiệp của chúng ta có không ít những hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh, đó là chưa kể đến những vi phạm về pháp luật lao động, về môi trudng,v.
Thực tế đó đặt ra cho chúng ta câu hỏi: vì sao lại có nhiều vụ tranh chấp xảy ra như vậy trong đời sống doanh nghiệp? Và vì lẽ gì doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì nhà nước lại phải hỗ trợ doanh nghiệp thực thi pháp luật. Chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi này ở các phần sau, chỉ xin trích dẫn lời ông Nguyễn Khắc Phụng - Công ty tư vấn CIBUD: “Trước hết, phải thừa nhận một thực trạng là các doanh nghiệp của nước ta tuyệt đại bộ phan là nhỏ và vừa, hầu hết là những người lần đầu tiên trong đời bước vào nghề kinh doanh nhờ chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, nên chắc chắn có hai điều kiện họ chưa làm được. Một là, chưa đủ thời gian và cả trình độ để tiếp cận với một hệ thống pháp luật vừa nhiều vừa chồng chéo và bất cập như hiện nay. Hai là, không hoàn toàn là chưa có thói quen sử dụng tư vấn, mà trước hết đã là người kinh doanh thì cái đầu tiên phải lựa chọn là hiệu quả; hàng ngày nhất cit nhất động của doanh nghiệp đều ít nhiều có liên quan đến pháp luật, mà trực tiếp là tiếp cận với cán bộ thực thì pháp luật, nhưng vừa qua có một số không nhỏ cán bộ vốn không có “thói quen” hướng dẫn doanh nghiệp hiểu để làm đúng pháp luật mà tìm “mọi cách giữ pháp luật cho mình” để mưu cầu lợi ích, còn người kinh doanh chỉ nghĩ làm sao vừa thuận tiện, lại vừa giữ được lợi ích nên cũng đã lập trình rất nhanh bài toán “chạy” và thuê tư vấn, cái nào hiệu quả hơn cái đó sẽ được quyết ngay tức thời” [48].
Có thể nói, có cả những nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan đã góp phần đẩy doanh nghiệp đến chỗ vi phạm pháp luật. Đó là sự thiếu hiểu biết pháp luật, sự lựa chọn bất đắc di để hoạt động doanh nghiệp quay theo guồng máy chung. Chính vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp bằng những hình thức, biện pháp thích hợp để nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho doanh nghiệp mà cụ thể là những thành viên doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện pháp luật có hiệu quả hơn, chính là một việc làm rất cần thiết. Lý do thứ hai đặt ra để trả lời cho câu hỏi vì sao phải hỗ trợ doanh nghiệp thực thi pháp luật chính là yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Chúng ta đều biết sự kiện Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Đồng nghĩa với nó là việc các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng phải vượt qua không ít thách thức để có thể tồn tại và phát triển. Chúng ta có thể đơn cử những ví dụ đơn giản là bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại với một trong các nước thành viên WTO hoặc Hoa Kỳ đều có thể đối mặt với nguy cơ bị huỷ hợp đồng nếu bên đối tác phát hiện ra rằng, doanh nghiệp đó sử dụng lao động chưa thành niên (bị coi là bóc lột lao động). Điều đó chỉ ra rằng, khi đã hội nhập vào sân chơi kinh tế, thương mại chung của thế giới thì mỗi thành viên tham gia sân chơi phải biết rõ luật chơi, cách thức chơi, cũng như là phương án đàm phán khi mình rơi vào thế bất lợi.
Doanh nghiệp cũng cần hiểu là họ nên làm gi, làm như thế nào để giảm thiểu tối da những rủi do mà mình có thể gặp phải. Sẽ là cực kỳ khó khăn cho các doanh nghiệp nếu như không có sự hỗ trợ từ phía những cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giúp doanh nghiệp tiếp cận những thông tin pháp lý quốc tế, luật thương mại quốc tế. Đương nhiên, doanh nghiệp có thể không buộc phải biết trong lịch sử của GATT - với tư cách vừa là hiến pháp của luật thương mại quốc tế vừa là một thiết chế thương mại quốc tế đa phương đã có tất cả 8 chuỗi các cuộc đàm phán (MTN) được gọi là các vòng nhằm mục tiêu giảm thiểu các rào cản thương mại như thê nào. Vòng thứ 9 - Vòng thiên niên kỷ đàm phán về vấn đề gì và kết quả ra sao.
Vấn đề mà doanh nghiệp cần hiểu và phải được biết là trong trường hợp nào thì doanh nghiệp có thể bị rơi vào tình thế bất lợi vì đã vi phạm các cam kết quốc tế. Việt Nam đã có những cam kết như thế nào trong các hiệp định thương mại song phương. để từ đó doanh nghiệp có thể định hướng phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.