Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính" của sinh viên Trần Linh Huân (Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2014 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thương Huyền) được xây dựng trong bối cảnh tư pháp có chuyển biến quan trọng: Luật Tố tụng hành chính năm 2010 vừa được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 để thay thế Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006). Hoạt động quản lý nhà nước ngày càng tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, làm phát sinh khiếu kiện hành chính; việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức đòi hỏi quy trình tố tụng phải chặt chẽ và khách quan. Trong quá trình giải quyết vụ án, xuất hiện các trường hợp khách quan khiến Tòa án không thể tiếp tục tố tụng ngay mà phải ra quyết định tạm đình chỉ nhằm bảo đảm quyền của đương sự và sự chính xác của phán quyết. Tuy nhiên, việc áp dụng sai chế định này dẫn đến hệ quả kéo dài thời gian xét xử, xâm hại quyền lợi của đương sự và làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ lý luận về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đánh giá thực trạng áp dụng quy định này tại Tòa án nhân dân các cấp, phát hiện vướng mắc pháp lý và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của vụ án hành chính cùng chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.
  2. Phân tích, luận giải các quy định pháp luật thực định về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích số liệu xét xử và các sai phạm, hạn chế cụ thể trong hoạt động ban hành quyết định tạm đình chỉ tại Tòa án.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể về mặt lập pháp và mặt áp dụng thực tiễn nhằm khắc phục các bất cập hiện hành.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành và thực tiễn áp dụng chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao hàm hoạt động giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân dân các cấp trên lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010, đồng thời sử dụng chuỗi số liệu thực tiễn và văn bản liên quan từ năm 1996 đến năm 2014.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp. Khung lý thuyết của đề tài gắn liền với học thuyết tài phán hành chính, quyền tài phán độc lập của Tòa án và nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng tư pháp.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng phân tích gồm:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (các điều 2, 14, 107, 120).
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (các điều 3, 33, 49, 50, 53, 54, 103, 109, 112, 118, 120, 122, 139).
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều 17, 24, 62, 81 về năng lực hành vi dân sự, giám hộ, tuyên bố chết, quyền nhân thân và quyền thừa kế).
  • Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính số 29/2006/PL-UBTVQH11 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006).
  • Các nghị quyết hướng dẫn chuyên môn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011, Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 và Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP.

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và tổng hợp tài liệu; phương pháp diễn dịch và quy nạp logic; phương pháp thống kê, phân loại dữ liệu xét xử; phương pháp so sánh pháp luật giữa Luật Tố tụng hành chính năm 2010 với Pháp lệnh năm 1996 và Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các báo cáo tổng kết công tác năm 2009 (số 01/BC-TA), năm 2010 (số 01/BC-TA), năm 2012 (số 05/BC-TA) của Tòa án nhân dân tối cao; Báo cáo tổng kết thực tiễn 12 năm hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính số 105/BC-VKSTC-V12 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các quyết định tố tụng thực tế tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh; cùng hệ thống giáo trình của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Luật Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định. Tác giả phân tích khái niệm vụ án hành chính qua việc tiếp cận giáo trình của hai trường đại học luật lớn và đi đến kết luận: Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của các đối tượng khiếu kiện hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và được Tòa án thụ lý. Vụ án hành chính có ba đặc điểm cơ bản:

  • Đối tượng tranh chấp trực tiếp là tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, danh sách cử tri hoặc quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (không xem xét tính hợp lý; quyền tài sản/nhân thân không phải đối tượng tranh chấp trực tiếp trừ yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh kèm theo).
  • Người bị kiện luôn là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước.
  • Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của đối tượng khiếu kiện.

Về chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, tác giả định nghĩa đây là việc Tòa án có thẩm quyền sau khi thụ lý đã ra quyết định tạm dừng việc giải quyết vụ án khi phát hiện có các căn cứ tạm đình chỉ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; vụ án sẽ tiếp tục được giải quyết khi căn cứ tạm đình chỉ không còn. Năm đặc điểm pháp lý của chế định này gồm: (1) chỉ phát sinh sau khi vụ án đã được thụ lý hợp lệ; (2) bắt buộc dựa trên căn cứ luật định; (3) thẩm quyền thuộc riêng Tòa án (Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử tại phiên tòa); (4) có thể tiến hành ở các giai đoạn tố tụng; (5) chỉ tạm dừng tố tụng, không chấm dứt vụ án và không xóa tên trong sổ thụ lý.

Pháp luật tố tụng hành chính quy định 4 căn cứ tạm đình chỉ chung tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2010:

  • Điểm a: Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tác giả phân tích ranh giới giữa chết pháp lý và chết não, đồng thời chỉ rõ quy định này chỉ áp dụng đối với quan hệ tố tụng liên quan đến tài sản (được quyền thừa kế theo Bộ luật Dân sự), không áp dụng đối với quyền nhân thân vì quyền nhân thân gắn liền với cá nhân không thể chuyển giao. Tác giả phân định ba trạng thái xử lý: "đã có" người kế thừa (tiếp tục giải quyết), "chưa có" (tạm đình chỉ), và "không có" (phải đình chỉ vụ án).
  • Điểm b: Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật (theo Điều 62 Bộ luật Dân sự năm 2005 và quy tắc loại trừ đại diện theo khoản 6 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính).
  • Điểm c: Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng (trừ trường hợp xét xử vắng mặt).
  • Điểm d: Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc có liên quan.

Chương 2: Thực trạng tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 trình bày thực trạng thi hành chế định này thông qua số liệu tổng kết và phân tích các sai phạm, vướng mắc qua các vụ việc cụ thể. Hoạt động giải quyết khiếu kiện hành chính có xu hướng tăng nhanh qua các năm nhưng tỷ lệ vụ án bị tạm đình chỉ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ so với án thụ lý. Trong 4 căn cứ, điểm c khoản 1 Điều 118 được Tòa án áp dụng phổ biến nhất do các trở ngại khách quan và bất khả kháng trong việc triệu tập đương sự.

Tác giả chỉ ra 3 nhóm vướng mắc thực tiễn lớn:

  1. Lúng túng trong việc xác định thứ tự ưu tiên giải quyết giữa vụ án hành chính và vụ án dân sự theo điểm d khoản 1 Điều 118. Điển hình là vụ việc của ông Nguyễn Văn Năm tại huyện Bình Chánh (TP. Hồ Chí Minh): Vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 904 m2 tại xã Tân Kiên bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tạm đình chỉ để chờ kết quả vụ án hành chính khiếu kiện quyết định thu hồi giấy đỏ của Ủy ban nhân dân huyện, trong khi Tòa hành chính cũng lúng túng chờ bản án dân sự xác định quyền sử dụng đất.
  2. Thẩm phán thiếu chuẩn xác về chuyên môn, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Điển hình là vụ ông Nguyễn Văn Bắc kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên): Thẩm phán Lương Đức Long ký Quyết định tạm đình chỉ số 03/2013/QĐST-HC viện dẫn Điều 139 Luật Tố tụng hành chính khi không hề mở phiên tòa xét xử; lý do tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết vụ án đối với quyết định số 6240/QĐ-UB là máy móc trong khi hoàn toàn đủ điều kiện nhập hai vụ án theo Điều 33 Luật Tố tụng hành chính và Điều 7 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP; đồng thời chậm giao quyết định cho đương sự gần 4 tháng, vi phạm khoản 2 Điều 122.
  3. Hiện tượng nể nang chính quyền địa phương, cố tình ra quyết định tạm đình chỉ trái pháp luật. Điển hình là:
  • Vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng (TP. Hải Phòng) liên quan đến thu hồi 40,3 ha đất: Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng ban hành Quyết định số 01/2012/QĐST-ST tạm đình chỉ vụ án với lý do "đương sự đề nghị để có thời gian thu thập chứng cứ". Quyết định này bị Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng kháng nghị (Kháng nghị số 134/KN-VKS-HC ngày 07/9/2012) vì việc thu thập chứng cứ không phải căn cứ luật định.
  • Vụ bà Dương Thị Hằng kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên): Thẩm phán chấp nhận lý do Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (đại diện người bị kiện) "bận giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm" là "lý do chính đáng" theo điểm c khoản 1 Điều 118 để ra quyết định tạm đình chỉ trái luật.

Về mặt pháp lý, khóa luận chỉ rõ các lỗ hổng: Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thiếu định nghĩa chính thức; quy định căn cứ tại Điều 118 quá hẹp và mâu thuẫn với quyền đề nghị tạm đình chỉ của đương sự (khoản 1 Điều 50 dẫn chiếu khoản 7 Điều 49); thiếu căn cứ đình chỉ vụ án tại Điều 120 đối với trường hợp đương sự cá nhân chết chỉ để lại quyền nhân thân (ví dụ vụ án khiếu kiện quyết định buộc thôi việc của Thư ký Tòa án).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu xét xử vụ án hành chính và tỷ lệ án tạm đình chỉ từ các nguồn tài liệu chính thống:

Năm Tổng số án thụ lý (vụ) Tổng số án giải quyết (vụ) Sơ thẩm giải quyết (vụ) Phúc thẩm giải quyết (vụ) Giám đốc thẩm / Tái thẩm (vụ)
2009 1.557 1.299 869 403 27
2010 1.651 1.398 976 402 20
2011 2.323 1.790 1.236 535 18
2012 6.177 4.742 3.834 878 30

Thống kê tỷ lệ tạm đình chỉ qua các giai đoạn theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Giai đoạn Cấp sơ thẩm: Thụ lý / Giải quyết / Tạm đình chỉ Cấp phúc thẩm: Thụ lý / Giải quyết / Tạm đình chỉ Tỷ lệ tạm đình chỉ / tổng số giải quyết
01/7/1996 – 30/5/2006 - Cấp huyện: 5.128 / 3.828 / 84 vụ
- Cấp tỉnh: 2.390 / 1.563 / 43 vụ
2.750 / 1.661 / 22 vụ - Sơ thẩm: 2,35%
- Phúc thẩm: 1,33%
01/6/2006 – 30/5/2009 - Cấp huyện: 2.407 / 1.773 / 27 vụ
- Cấp tỉnh: 644 / 534 / 23 vụ
1.163 / 1.077 / 54 vụ - Sơ thẩm: 2,16%
- Phúc thẩm: 5,01%

Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp lập pháp: Bổ sung định nghĩa tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính vào luật; mở rộng và hướng dẫn cụ thể các căn cứ tại Điều 118, xác lập cơ chế xem xét yêu cầu tạm đình chỉ chính đáng của đương sự nhằm bảo đảm tính tương thích với Điều 49 và Điều 50; bổ sung căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 120 đối với trường hợp đương sự cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ tố tụng thuần túy thuộc về nhân thân không thể chuyển giao; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về thứ tự giải quyết khi có quan hệ đan xen giữa án hành chính và án dân sự theo điểm d khoản 1 Điều 118; xây dựng tiêu chí phân định rõ ràng thế nào là "lý do chính đáng".
  • Nhóm giải pháp thực tiễn: Nâng cao năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán; chấm dứt tình trạng vì nể nang cơ quan hành chính mà ban hành quyết định tạm đình chỉ sai luật; tăng cường vai trò kiểm sát tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân; tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn giao quyết định tố tụng theo Điều 122.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở chỗ: Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về riêng chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sau khi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực, lấp đầy khoảng trống so với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ đề cập tản mạn hoặc lồng ghép ở phạm vi hẹp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào năm 2014, thời điểm Luật Tố tụng hành chính năm 2010 mới đi vào đời sống tư pháp được gần 3 năm. Hạn chế về nguồn tư liệu thể hiện ở việc Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành các báo cáo thống kê định lượng riêng biệt chuyên sâu về các quyết định tạm đình chỉ, khiến tác giả phải khai thác số liệu gián tiếp từ Báo cáo số 105/BC-VKSTC-V12 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các quyết định tố tụng thực tế chưa được tổng kết thành án lệ hay án mẫu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài gồm:

  • Mở rộng phạm vi đánh giá tác động của chế định tạm đình chỉ trong các giai đoạn tố tụng đặc biệt như thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
  • Nghiên cứu cơ chế giải quyết triệt để mối quan hệ xung đột thẩm quyền và thứ tự ưu tiên xử lý giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính trong bối cảnh sửa đổi, hoàn thiện pháp luật tư pháp trong các giai đoạn tiếp theo.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm thủ tục tố tụng và cơ chế chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân đối với Thẩm phán khi ban hành quyết định tạm đình chỉ vụ án thiếu căn cứ luật định.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính trong việc tiếp cận lý luận và phân tích kỹ thuật lập pháp đối với các chế định tạm dừng tố tụng. Nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo chuyên môn cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư khi tiếp cận quy trình thu thập chứng cứ, nhập vụ án và xác định căn cứ tạm đình chỉ.

Các nội dung có giá trị tham chiếu cao nhất trong công trình gồm:

  • Phần lập luận phân biệt giữa quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với sự kiện pháp lý cá nhân chết/giải thể trong quan hệ thừa kế quyền tố tụng tại điểm a khoản 1 Điều 118.
  • Phần phân tích các sai sót nghiệp vụ điển hình tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh và Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao Quyết định tạm đình chỉ số 01/2012/QĐST-ST của TAND huyện Tiên Lãng trong vụ án của ông Đoàn Văn Vươn bị Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng kháng nghị? Quyết định này bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm qua Kháng nghị số 134/KN-VKS-HC ngày 07/9/2012 vì Tòa án lấy lý do "đương sự đề nghị tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án để có thời gian xác minh, thu thập chứng cứ". Căn cứ này hoàn toàn không nằm trong các căn cứ luật định cho phép tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

2. Thẩm phán TAND huyện Đại Từ đã vi phạm những quy định nào khi ra Quyết định tạm đình chỉ số 03/2013/QĐST-HC đối với vụ kiện của ông Nguyễn Văn Bắc? Thẩm phán Lương Đức Long đã mắc 3 sai phạm nghiêm trọng: (1) Viện dẫn sai Điều 139 Luật Tố tụng hành chính (vốn chỉ áp dụng đối với quyết định tạm đình chỉ ban hành tại phiên tòa) trong khi không có phiên tòa nào được mở vào ngày 26/11/2013; (2) Tạm đình chỉ để "chờ kết quả vụ án khác" là máy móc, bởi trường hợp này hoàn toàn đủ điều kiện nhập hai vụ án giải quyết chung theo Điều 33 Luật Tố tụng hành chính và Điều 7 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP; (3) Chậm giao quyết định cho đương sự gần 4 tháng (ban hành ngày 26/11/2013 nhưng đến 19/3/2014 mới giao), vi phạm khoản 2 Điều 122.

3. Tình trạng luẩn quẩn khi áp dụng điểm d khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính phát sinh như thế nào trong vụ án tranh chấp đất tại huyện Bình Chánh? Trong vụ ông Nguyễn Văn Năm, TAND huyện Bình Chánh thụ lý vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất 904 m2 rồi tạm đình chỉ chờ kết quả trả lời nguồn gốc đất. Sau khi TAND TP. Hồ Chí Minh hủy quyết định này, Tòa huyện Bình Chánh lại tiếp tục tạm đình chỉ án dân sự để chờ kết quả vụ án hành chính mà ông Năm kiện quyết định thu hồi giấy đỏ của Ủy ban nhân dân huyện. Vấn đề gây lúng túng thực tế là không rõ Tòa án phải tạm đình chỉ án hành chính chờ phán quyết quyền sử dụng đất của bản án dân sự hay tạm đình chỉ án dân sự để chờ xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính thu hồi giấy đỏ.

4. Điểm bất cập của điểm a khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính khi đương sự là cá nhân chết mà không để lại tài sản thừa kế là gì? Điều 118 quy định tạm đình chỉ khi cá nhân chết chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tuy nhiên, nếu vụ án chỉ gắn với quyền nhân thân (như vụ Thư ký Tòa án khởi kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc) thì quyền nhân thân chấm dứt theo Bộ luật Dân sự, không thể chuyển giao thừa kế. Việc Tòa án tạm đình chỉ để tìm người thừa kế trong trường hợp này là vô nghĩa, làm kéo dài thời gian, nhưng Điều 120 lại không quy định căn cứ đình chỉ dứt điểm vụ án đối với trường hợp này.

5. Thống kê của ngành Kiểm sát cho thấy tỷ lệ tạm đình chỉ vụ án hành chính ở cấp phúc thẩm biến động như thế nào qua hai giai đoạn 1996–2006 và 2006–2009? Theo Báo cáo số 105/BC-VKSTC-V12 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong giai đoạn 1996–2006, ở cấp phúc thẩm Tòa án giải quyết 1.661 vụ trong tổng số 2.750 vụ thụ lý, số vụ tạm đình chỉ là 22 vụ (chiếm 1,33%). Sang giai đoạn 2006–2009, ở cấp phúc thẩm giải quyết 1.077 vụ trong tổng số 1.163 vụ thụ lý, nhưng số vụ tạm đình chỉ tăng lên 54 vụ (chiếm 5,01% tổng số vụ giải quyết).

Kết luận

Khóa luận cử nhân luật của tác giả Trần Linh Huân là công trình nghiên cứu chuyên khảo về chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính dưới góc độ lý luận thực định và thực tiễn áp dụng thời kỳ đầu thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Bằng việc phân tích các căn cứ pháp lý tại Điều 118 và khảo sát các sai phạm tố tụng cụ thể, tác giả đã chỉ rõ các lỗ hổng lập pháp cũng như hiện tượng tùy tiện, nể nang của Tòa án địa phương khi ban hành quyết định tạm đình chỉ. Các giải pháp kiến nghị được đề xuất trong công trình tập trung vào việc chuẩn hóa kỹ thuật lập pháp và tăng cường kỷ luật tố tụng, tạo cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính tại Việt Nam.