ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, việc sử dụng các thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược gặp nhiều bất cập và tác dụng phụ khôn lường, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe người bệnh và vật nuôi. Do đó, việc sử dụng thảo dược thay thế kháng sinh ngày càng được quan tâm và nghiên cứu phổ biến. Theo Bùi Thị Tho (2009), việc sử dụng thảo dược thay thế thuốc kháng sinh có nhiều ưu điểm vượt trội như giá thành rẻ hơn các kháng sinh hóa tổng hợp, ít tác dụng phụ cho thời gian sử dụng lâu dài, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ít dư lượng hơn và cho đến nay không có sự xuất hiện của chủng vi khuẩn kháng thuốc. Việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc là một xu thế rất được các nhà khoa học quan tâm.
Nhiều dược liệu đã được sử dụng để tách chiết các hoạt chất làm thuốc như: chiết berberin từ cây vàng đắng (Coscinium fenestratum), morphin từ cây thuốc phiện (Papaver somniferum), bêta - caroten và lycopen từ gấc (Mormodica cochichinensis), strychnin từ cây mã tiền (Strychnos nux-vomica), papain từ đu đủ (Carica papaya), diosdenin từ củ mài (Dioscorea deltoidea), curcumin từ nghệ vàng (Curcuma longa), menthol từ bạc hà (Metha arvesis)… Trong đó, có nhiều loại hoạt chất quan trọng như quinin, morphin, strychnin… đều phải chiết ra từ dược liệu mà chưa thể đi bằng con đường tổng hợp hóa học (Phùng Tuấn Giang, 2017). Bởi vậy, việc phân tích và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa của dược liệu là điều cần thiết nhằm đánh giá đúng các khả năng và hoạt tính của các dược liệu. Các loại dược liệu như kì tử, hoa hòe và kim ngân từ lâu trong dân gian được sử dụng như các loại thuốc chữa bệnh, tăng sức đề kháng, bồi bổ sức khỏe, được sử dụng chữa nhiễm khuẩn rất tốt. Do vậy, các dược liệu này có nhiều tiềm năng trong việc nghiên cứu và phát triển dược phẩm, là nguồn dược phẩm lý tưởng thay thế thuốc kháng sinh và hóa tổng hợp do có ưu thế hơn hẳn về giá 1 thành, hiệu quả và chất lượng.
Vì lý do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm chiết xuất và đánh giá khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa của các cây dược liệu kì tử, hoa hòe, kim ngân. MỤC ĐÍCH- YÊU CẦU Chứng minh được tác dụng ức chế vi khuẩn của dược liệu kì tử, hoa hòe, kim ngân trên 9 loại vi khuẩn: Escheria coli ATCC 25922; Escheria coli ATCC 35218; Escheria coli ATCC 85922; Staphylococcus aureus ATCC 25923; Staphylococcus aureus ATCC 25023; Pseudomonas aeruginosa ATCC 9027; Bacillus subtilis ATCC 7953; Geobacillus stearothemophilus ATCC 7953; Samolnella ATCC 11311. Khảo sát và so sánh hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của các dịch chiết dược liệu. Đánh giá hiệu quả thể hiện hoạt tính kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa đối với sáu dung môi được sử dụng: ethanol, methanol, hexan, aceton, nước nóng, ethyl acetate.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN THUỐC CÓ NGUỒN GỐC THẢO DƯỢC 2. Nhu cầu sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược thiên nhiên trên thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số nông thôn và các nước đang phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Cũng theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc.
Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc. Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao. Các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật.
Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin,. Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm thuốc. Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis.
Từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất được berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram (+) và gram (-), nấm.
Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp 3 được chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfia spp. Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc trợ tim, … (Trịnh Ngọc Hiệp, 2019). Thực tế cho thấy, dù có nhiều tiềm năng phát triển các loại thuốc có nguồn gốc thảo dược tự nhiên nhờ vào nguồn thảo dược dồi dào, tuy nhiên các cây thuốc được tách chiết, sử dụng cho cộng đồng vẫn ít hơn so với các cây thuốc được trồng và sử dụng trực tiếp (Phùng Tuấn Giang, 2017).
Tình hình nghiên cứu phát triển thuốc có nguồn gốc thảo dược phòng trị bệnh trên thế giới và Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Để đánh giá đúng tiềm năng cũng như hoạt tính của các dược liệu, nhằm ứng dụng trong phòng trị bệnh ở người và vật nuôi, trên thế giới có các nghiên cứu nhằm đánh giá hoạt tính ức chế sự phát triển của vi khuẩn, khảo sát hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của dược liệu. Nghiên cứu hoạt chất flavonoid của Iqbal et al. (2015) được thực hiện để đánh giá hoạt tính kháng khuẩn in vitro và hàm lượng flavonoid của quả cây kỳ tử Iraqi awsaj (Lycium barbarum L.
Dịch chiết xuất từ trái cây chứa một lượng flavonoid. Kết quả thu được trong các thử nghiệm kháng khuẩn, hợp chất flavonoid hoạt động mạnh hơn khi dùng dung môi ethanol đối với cả các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy, kỳ tử là nguồn flavonoid có giá trị và có liên quan đến các hoạt động kháng khuẩn. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã bước đầu khẳng định tiềm năng ứng dụng của các dược liệu nhằm phát triển thuốc có nguồn gốc tự nhiên của kỳ tử (Mocan et al., 2014), nghiên cứu hoạt chất Quercetin trong hoa hòe (Dasha et al., 2013), nghiên cứu hoạt tính và ứng dụng của kim ngân (Sandigaward et al.
Đây là ba loại 4 dược liệu hiện được trồng phổ biến tại Việt Nam, dễ thu mua và ứng dụng cho mục đích phòng, chữa bệnh tại Việt Nam. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Việt Nam có nhiều tiềm năng về vị trí tự nhiên, khí hậu, được ưu ái về hệ thống sinh thái phong phú, đa dạng về chủng loại các cây dược liệu với hơn 12 nghìn loại thực vật, trong đó có gần hơn 4 nghìn loài có công dụng làm thuốc được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: Sâm Ngọc Linh, Sâm Vũ Điệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Hoàng Liên Ô Rô, Thanh Thiên Quỳ, Ba gạc Vĩnh Phúc, Hoàng Liên Gai, … (Trần Doãn Tiến, 2014). Bên cạnh đó, người Việt Nam đã có kinh nghiệm sử dụng các loại cây để làm thuốc dùng trong việc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe. Các cây thuốc ấy được truyền từ đời này sang đời khác dựa vào kinh nghiệm thực tế trong dân gian, đúc kết thành các bài thuốc có giá trị y học rất lớn cho sự phát triển Y học hiện nay.
Việc nghiên cứu, ứng dụng thảo dược phòng trị bệnh cho người hiện có từ lâu, và hiện đang rất phát triển. Có nhiều thành tựu có thể đánh giá đúng mực vai trò và tiềm năng phát triển của việc ứng dụng thuốc thảo dược thay thế kháng sinh. Hai tác giả Thanh Van Nguyen and Hai Thanh Nguyen (2019) đã chứng minh thành công các tác dụng ức chế vi khuẩn của một số dược liệu phổ biến trong dân gian lên 20 chủng vi khuẩn khác nhau trong đó có cả các chủng đã kháng thuốc kháng sinh từ trước và mối quan hệ rất chặt chẽ của tính kháng sinh với các hoạt chất thiên nhiên có trong dược liệu, đã dần làm sáng tỏ các tác dụng cổ truyền của dược liệu Việt Nam. Song song với các nghiên cứu và ứng dụng thảo dược phòng trị bệnh cho con người, việc ứng dụng thảo dược thiên nhiên ứng dụng cho vật nuôi và thủy sản cũng đang được chú trọng và phát triển.
Phạm Khắc Hiếu và Lê Minh Hoàng (2001) đã chọn được một số dược liệu Việt Nam: Bạc hà, Kinh giới, Mần Tưới có tác dụng tốt trong phòng và trị bệnh ngoại ký sinh trùng ong. Dựa trên 5 nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng được quy trình phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng tối ưu cho ong tỉnh Đắc Lắc. Nghiên cứu chiết xuất thảo dược lá bàng, diệp hạ châu (Hồng Mộng Huyền và cs, 2020) đối với sự sự tăng trưởng, miễn dịch không đặc hiệu và khả năng kháng bệnh trên tôm thẻ chân trắng được thực hiện. Các thảo dược trên được chiết xuất bằng ethanol và bổ sung vào thức ăn ở nồng độ 1%, 2% cho tôm chân trắng trong 4 tuần.
Kết quả cho thấy các dịch chiết không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của tôm, và còn giúp tăng trưởng các chỉ tiêu miễn dịch (chỉ số huyết học, hoạt tính phenoloxidase, hoạt tính superoxide dismutase) và tỷ lệ sống khi cảm nhiễm với Vibrio parahaemolyticus. Do đó, bước đầu có thể đánh giá tiềm năng ứng dụng dịch chiết lá bàng, diệp hạ châu trong nuôi tôm chân trắng thương phẩm ở Cần Thơ. Kì tử Thông tin và các bộ phận kỳ tử sử dụng trong nghiên cứu theo hướng dẫn của Đỗ Tất Lợi (1999). Tên khác: cây khởi tử, địa cót tử, câu kì tử Tên khoa học: Lycium sinense Mill.
sinense Ait) Họ: Cà Solanaceae Hình 2. Dược liệu kì tử tươi và sau khi nghiền.