MỞ ĐẦU Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nguồn dược liệu đa dạng. Các nguồn thực vật vô cùng phong phú và là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả trên thế giới với mục đích tìm kiếm các chất mới có hoạt tính sinh học bổ sung vào thực phẩm [1]. Trong số đó, rau diếp cá là một loại thực vật được trồng rất phổ biến ở Việt Nam và một số nước Châu Á, đã được báo cáo là có khả năng kháng khuẩn, kháng viêm, tăng cường đáp ứng miễn dịch do chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là các hợp chất thuộc nhóm flavonoid như rutin, quercetin. Trong đông y, diếp cá được sử dụng trong các bài thuốc để chữa viêm phổi, tăng huyết áp, táo bón và tăng đường huyết [1].
Có nhiều nghiên cứu về tác dụng dược lý của diếp cá như chống ung thư (Kim và cộng sự, 2001), chống đột biến (Chen và cộng sự, 2003), chống viêm (Li và cộng sự, 2013), chống dị ứng (Han và cộng sự, 2009), chống oxy hóa (Tian và cộng sự, 2012), chống vi rút (Lau và cộng sự, 2008), chống vi khuẩn (Sekita và cộng sự, 2016), chống béo phì (Miyata và cộng sự, 2010) và chống bệnh tiểu đường. Các hợp chất có hoạt tính sinh học hiện nay được nghiên cứu rất nhiều, đặc biệt hướng tách chiết chúng từ các loại cây cỏ, thảo dược và ứng dụng vào trong thực tiễn. Từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tối ưu hóa điều kiện trích ly lượng polyphenol tổng và khả năng kháng oxy hóa ở rau diếp cá “Houttuynia cordata Thunb” & Ứng dụng”.1 Mục tiêu – nội dung nghiên cứu: Tìm được điều kiện tối ưu hóa điều kiện trích ly lượng polyphenol tổng và khả năng kháng oxy hóa ở dịch chiết của rau diếp cá có xử lý chần.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong quy mô phòng thí nghiệm: phòng thí nghiệm B10, trường Đại học quốc gia – Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. 2 Nội dung nghiên cứu tập trung vào xác định điều kiện tối ưu hóa đơn yếu tố và đa yếu tố cho lượng polyphenol tổng và khả năng kháng oxy hóa cao nhất từ dịch chiết rau diếp cá.
3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tình hình nghiên cứu: 2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước: - Ngô Hoàng Linh, 2017. “Nghiên cứu quy trình công nghệ chiết tách các chất flavonoid và sterol từ cây diếp cá ở tỉnh Nghệ An” Trung tâm Ứng dụng TB KH&CN Nghệ An - Phan Văn Cư, Nguyễn Thị Thu Hường. “Nghiên cứu tách chiết và định lượng sterols từ lá của cây diếp cá (Houttuynia cordata thunb) ở tỉnh Thừa Thiên Huế bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao”. Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 74A, số 5 (2012) 17-24.
- Trần Thị Việt Hoa, Lê Thị Kim Oanh, 2008. “Phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ cây diếp cá (Houttuynia cordata thumb) của Việt Nam”. Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ, 11 (7): 73-77. - Trần Thanh Lương, Lê Thị Út, Phạm Nguyên Đông Yên, Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2007.
“Nghiên cứu hoạt tính sinh học và thành phần hóa học của cây diếp cá thu hái tại thành phố Hồ Chí Minh”. Hội nghị khoa học và công nghệ hóa học hữu cơ toàn quốc lần thứ IV, 430-434. “Phân lập flavonoid từ cao butanol trong cây Diếp cá (Houttuynia cordata Thunb.) ở tỉnh Thừa Thiên - Huế”. Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, 63: 27-32.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước: - Chen YY, Liu JF, Chen CM, Chao PY, Chang TJ (2003): “A study of the antioxidative and antimutagenic effects of H.
cordata using an oxidized frying oil- fed model”. J Nutr Sci Vitaminol 49: 327–333. - Lu HM, Liang YZ, Yi LZ and Wu XJ: “Anti-inflammatory effect of Houttuynia cordata injection”. “Antiproliferative activities and phenolic acid content of water and ethanolic extracts of the powdered formula of Houttuynia 4 cordata Thunb”.fermented broth and Phyllanthus emblica Linn.
BMC Complement Altern Med. “Pressurized liquid extraction of flavonoid from Houttuynia cordata Thunb”. Separation and Purification Technology, 58: 305-310. “Anti-Inflammatory Activity of Houttuynia cordata against Lipoteichoic Acid-Induced Inflammation in Human Dermal Fibroblasts”.
Chonnam Medical Journal, 46: 140-147.2 Tổng quan - đặc điểm rau diếp cá: - Tên thường gọi: diếp cá - Tên khoa học: Houttuynia cordata Thunb. - Là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chổ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cánh, hình tim, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn lá dài 4 – 10 cm, rộng 2,5 – 6,0 cm.
Mặt trên lá màu lục, vàng sẫm đến nâu sẫm, mặt dưới màu lục xám đến nâu xám. Hoa nhỏ, mọc thành chùm ngắn dài khoảng 2 cm, cỏ bốn lá bắc hình cánh hoa màu trắng ở gốc. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc mầu trắng [2]. - Diếp cá là loại cây thân leo, thân rễ mảnh, hình trụ tròn hay dẹt, cong, dài 20 – 35 cm, đường kính 2 – 3 mm.
Thân cây nhẵn có màu xanh lục hoặc đôi khi có màu đỏ tía, có màu đỏ trên các nốt. Các phần dưới của cuống lá tạo thành bẹ bao quanh thân [3]. - Trong toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá, hoa nở vào mùa hè tháng 5 đến tháng 8. 1 Cây rau diếp cá 5 - Rau diếp cá nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau [4]: BẢNG 2.
1: PHÂN LOẠI RAU DIẾP CÁ Giới Họ Ngành Magnoliophyta Lớp Magnoliopsida Bộ Piperales Họ Saururaceae Chi Houttuynia Loài H.3 Phân bố: Diếp cá là cây ưa ẩm thấp và chịu bóng, có thể mọc hoang dại. Trên đất ẩm và tơi xốp nhiều mùn cây diếp cá phát triển rất xum xuê, xanh tốt. Cây chịu được hạn nhưng phát triển kém, năng suất thấp, lá già cứng, ưa thích nhiệt độ cao, từ 25 – 35℃. Diếp cá có thể trồng quanh năm, tốt nhất là đầu mùa mưa Rau diếp cá phân bố khắp châu Á.
Phổ biến ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam. Loại cây nổi tiếng với công dụng hỗ trợ khắc phục táo bón này chủ yếu sinh trưởng và phát triển ở nơi ẩm ướt, có nhiều bóng mát.4 Thành phần hóa học rau diếp cá: Trong 100g rau diếp cá [5]: BẢNG 2. 2 THÀNH PHẦN TRONG RAU DIẾP CÁ Thành phần hóa học rau diếp cá Hàm lượng/100g Nước 91.26 (mg) Vitamin C 68 (mg) Trong diếp cá có khoảng 0.0049% tinh dầu và một ít chất alcaloid gọi là cordalin. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là metylnonylxeton CH3CO(CH2)8CH3 (có mùi rất khó chịu), chất myrcene C10H46, caprinic acid C9H19COOH và laurinaldehyde.
Hoa và quả chứa chất isoquercitrin và không chứa quercetin. Độ tro trung bình là 11.4%, tro không tan trong HCl là 2. Thành phần chủ yếu là andehyde và dẫn xuất nhóm ceton như methyl-n- nonyl ceton, 1-decanal, 1-dodecanal là những chất không có tác dụng kháng khuẩn, 3-oxododecanal là chất có tác dụng kháng khuẩn. Nhóm terpen bao gồm: camphen, myrcen, limonene, linalool [5].
Ngoài ra còn chứa acid caprinic, acid decanoic, acid palmetic, lipid và vitamin K. Lá diếp cá có chứa β-sitosterol, alkaloid: cordalin và các flavonoid: afzelin, hyperin, rutin, isoquercitrin và quercitrin [5].1 Các hợp chất flavonoid: Diếp cá có chứa thành phần flavonoid phong phú. Các flavonoid đáng chú ý kể đến như phloretin, afzelin, rutin, quercitrin, isoquercitrin. Trong đó quercitrin, isoquercitrin và phloretin được coi là những hợp chất có tác dụng chống ung thư, tác dụng ngăn chặn gốc tự do và được dùng để điều trị bệnh.
Rutin: - Công thức phân tử: C27H30O16 - Được tìm thấy trong trái cây chua, cây có múi cam, bưởi, chanh,…) và quả mọng như dâu, nam việt quốc. - Công thức cấu tạo: 7 Hình 2. 2 Sơ đồ cấu tạo Rutin Isoquercitrin: - Công thức phân tử: C21H20O12 - Là dạng tự nhiên của quercetin. Nó có thể được tìm thấy trong táo, hành củ, trái cây và rau quả khác.
- Công thức cấu tạo: Hình 2. 3 Sơ đố cấu tạo của isoquercitrin Quercitrin: - Công thức phân tử: C21H20O11 - Là một Glycoside hình thành từ các flavonoid quercitin và các đường deoxy rhamnose. - Công thức cấu tạo: Hình 2. 4 Sơ đồ cấu tạo quercitrin 8 Quercetin: - Công thức cấu tạo: C15H10O7 - Công thức cấu tạo: Hình 2.
5 Sơ đồ cấu tạo quercetin 2.2 Tinh dầu: Rau diếp cá có chứa tinh dầu, đây là thành phần làm cho dược liệu có mùi đặc biệt. Thành phần chủ yếu của tinh dầu diếp cá là các nhóm aldehyde và các dẫn xuất ceton như methyl n-nonyl ceton (đây là chất làm cho diếp cá khi vò có mùi tanh), L-decanal, L-dodecanal. Nhóm terpen bao gồm các chất: α-pinen, camphen, myrcene, limonene, linalol, bornyl acetate, geraniol và caryophyllene. Ngoài ra, tinh dầu còn chứa acid caprinic, lauryl aldehyd, benzamid, acid hexadecanioc, acid decanoic, acid palmitic, acid linoleic, acid oleic, acid stearic, aldehyd capric, acid clorogenic, lipid và vitamin K [5].
Alcaloid: Từ diếp cá đã phân lập được β-sitosterol, một số alcaloid có hoạt tính sinh học được tìm thấy trong cây diếp cá là: aristolactam A, aristolactam B, piperolactam A, norcepharadion B, cepharadion A, cepharadion B, splendidin [5]. Hoạt tính sinh học rau diếp cá: 2.1 Tác dụng kháng virus: Theo Kyoko Hayashi và cộng sự diếp cá ức chế trực tiếp virus herpes chủng 1 (HSV-1), virus cúm, virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người loại 1 (HIV- 1) mà không biểu hiện độc tính, nhưng không chống lại poliovirus và coxsackie virus. Mức độ giảm virus liên quan đến thời gian xử lý bằng thuốc. Ba thành phần chính có tác dụng là: xeton methyl n-nonyl, aldehyde lauryl và aldehyde capryl [6].2 Tác dụng chống ung thư máu: Công trình nghiên cứu của Chang Jung-San và cộng sự, mục đích để đánh giá tác dụng chống ung thư máu của H.
Cordata và Bidens pilosa. Năm dòng tế bào ung thư máu, theo thứ tự là L1210, U937, K562, Raji và P3HR1 được nuôi cấy với chất chiết xuất của H. Cordata và Bidens pilosa. Kết quả cho thấy chiết xuất từ các dược liệu trên có tác dụng ngăn chặn 5 dòng tế bào này [7].3 Tác dụng chống oxy hóa: Diếp cá có tác dụng kháng bleomycin (chất gây ra sự xơ hóa phổi ở chuột).
Mặc dù dịch chiết nước diếp cá có tác dụng dọn sạch gốc tự do và tác dụng ức chế oxy hóa xanthin yếu hơn vitamin E nhưng hoạt tính ức chế sự peroxide hóa lipid tế bào gan ở chuột tương đương với vitamin E. Diếp cá có chứa các hợp chất flavonoid như phloretin-2’-0-β, Dglucopyranosid, quercetin-3-0-β, D- galactopyranosid có tác dụng đối với sự peroxy hóa lipid màng tế bào gan bằng cách hạn chế quá trình peroxy góp phần bảo vệ tế bào và duy trì sự hoạt động bình thường của tế bào [8].