Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan về cây xáo tam phân Xáo tam phân có tên khoa học là Paramignya trimera (Oliv.) Burkill, thuộc ho cam quýt (Rutaceae). Cây dạng bụi trườn; gai dai, hơi cong xuống; cành không lông. Lá mọc cách, hình thuôn dài đến tròn dài hẹp, kích thước 10 - 18 x 1 - 2,5em, bìa nguyên hơi uốn xuống, gân phụ 8 - 10 cặp; cuống ngăn, dài 2 - 3mm.
Phiến lá có mặt trên xanh đậm, mặt đưới nhạt hơn, bên trong có nhiều điểm dầu. Cụm hoa mọc ở nách gai. Hoa màu trang nga; dai 3 rang; canh hoa 3, dai 4mm; tiéu nhụy 3, rời nhau. Qua hình cau, đường kính 14 - 15mm (Hộ, 1999).
Các bộ phận của cây có tinh dầu, nhiều nhất là ở rễ, mùi thơm dịu rất đặc trưng (Hình 1. Cây xáo tam phân (Paramignya trimera (Oliv.) Burkill) (Phi và cộng sự, 2020) Xáo tam phân còn được gọi với nhiều cái tên khác như cây thuốc mọi, cây thần xạ hay cây thần được. Loại thảo dược này phân bồ tự nhiên trên một số nước Đông Nam Á, ở Việt Nam tập trung nhiều tại khu vực Nam Trung Bộ như: Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận. Theo kinh nghiệm dân gian thì xáo tam phân có tác dụng giải nhiệt, bồi bố sức khỏe, hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan, giúp tăng cường chức năng gan, đồng thời kích thích ăn ngon, ngủ ngon, rất tốt cho phụ nữ sau sinh và đặc biệt là có khả năng trị ung thư.
Loại dược liệu này được thu hái quanh năm, cây được đào toàn bộ rễ, chặt bỏ cành lá, rửa sạch, thái lát mỏng và phơi khô làm thuốc. Cách sử dụng xáo tam phân là đun với nước sôi, uống hàng ngày thay trà, hoặc sắc cạn dé uống được dễ dàng hơn. Ngoài ra, rễ cây còn được ngâm với rượu trắng và uống từ 1 - 2 ly nhỏ trước các bữa ăn. Cây dược liệu này đang bị người dân săn lùng khai thác dé làm thuốc hoặc bán với giá thành tương đối cao, nên phạm vi phân bồ của loài này ngày càng bị thu hep và có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp bảo tồn hữu hiệu.
Cây thích hợp với vùng đất nắng nóng, khí hậu khắc nghiệt, không ưa nước, chịu hạn tốt, có khả năng tái sinh tự nhiên bằng chéi nên có thé trồng bằng hạt hay giâm cảnh, rễ. Hiện nay, các nhà vườn áp dụng phương pháp giâm cành dé nhân giống cây xáo tam phân. Nơi có diện tích trồng xáo tam phân lớn nước ta là vùng Ninh Vân, Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nơi đây có điều kiện thô nhưỡng thích hợp với loại cây này. Tuy nhiên, hiện nay việc chuyên giao kỹ thuật nhân giống, trồng cây còn hạn chế và xáo tam phân cũng là loại cây khó trồng, lại chậm phát triển.
Năm 2014, Trung tâm nông nghiệp tinh Khánh Hòa thực hiện đề tài bảo tồn xáo tam phân với nội dung lập vườn cây đầu dòng với sô lượng ban dau 500 cây, đến năm 2015, vườn đã phát triển giâm hom chéi lên 5.000 cây, giai đoạn 2016 - 2017, trung tâm cung cấp cho thị trường khoảng 3. Ngoài ra, Công ty TNHH dược liệu Nam Việt cũng đã triển khai phát triển khu vực dược liệu trồng xáo tam phân trên diện tích 40 ha tại hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa, với tỉ lệ trồng 1. Hiện tại thì xáo tam phân đã được trồng rộng rãi hơn tại các tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận. Với những công dụng tốt đối với sức khỏe, việc nghiên cứu chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học từ cây xáo tam phân sẽ giúp phát triển và thương mại hóa các sản phâm được liệu, qua đó bảo tồn được nguồn gen thực vật quý hiếm một cách bền vững, khuyến khích người dân trồng cây được liệu, mang lại lợi ích kinh tế và gia tăng thu nhập.
Các hợp chất phenolic, saponin trong xáo tam phân và hoạt tính sinh học của chúng Trong y học cô truyền, cây xáo tam phân có vị hơi chát, đắng nhẹ kèm vị ngọt, khi ngửi có mùi thơm của tinh dau. Rễ cây là bộ phận được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian chữa bệnh vì chứa nhiều thành phần hóa học tốt cho sức khỏe con người như flavonoid, coumarin, alcaloid, saponin và triterpenoid. Hàm lượng các hợp chat sinh học trong rễ xáo tam phân thu được bang phương pháp trích ly methanol có hỗ trợ vi sóng Hop chat sinh học Ham lượng (mg/g mẫu khô) Gallic acid 2,79 + 0,17 Chlorogenic acid 7,72 + 0,37 Caffeic acid 0,34 + 0,03 (-)-Epicatechin 1,22 + 0,05 Syringic acid 0,66 + 0,08 p-Coumaric acid 2,14+0,01 Rutin 2,27 + 0,01 Myricetin 1,03 + 0,04 Quercetin 0,57 + 0,09 (+)-Catechin 1,16 + 0,04 Kaempferol 16,72 + 0,10 (Nguyen va cong su, 2015) Trên thế giới chưa có nhiều công trình nghiên cứu về cây xáo tam phân. Ở Việt Nam, hiện đã có một số công bồ về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài cây này.
Năm 2013, Nguyễn Mạnh Cường và cộng sự phân lập được ba hợp chất là ostruthin, ninhvanin và 6-(2- hydroxyethyl)-2,2-dimethyl-2H-1-benzopyran từ rễ cây thu hái tại Ninh Vân, Khánh Hòa (Cường và cộng sự, 2013). Cũng năm này, Bùi Trọng Đạt và cộng sự công bố việc phân lập coumarin và dẫn xuất chromen từ rễ cây (Đạt và cộng sự, 2013). Ngoài ra, Phạm Huy Bách và cộng sự cũng phân lập được ostruthin và đã đưa ra phương pháp định lượng hợp chất này trong mẫu được liệu (Bách và cộng sự, 2013). Qua năm sau, Trần Thị Thúy Quỳnh và cộng sự công bồ kết quả phân lập ba coumarin là ostruthin, 8-methoxyostruthin va xanthyletin cùng với hai acridon alkaloid là oriciacridon và citrusinin-I từ rễ cây thu hái ở Khánh Hòa (Quỳnh và cộng sự, 2014).
Năm 2015, Nguyễn Thị Ngọc Dung và cộng sự xây dựng được quy trình định lượng đồng thời ostruthin và 8-methoxyostruthin trong rễ cây bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (Dung và cộng sự, 2015). Đến năm 2026, bốn coumarin là ostruthin , 8- methoxyostruthin, 7-hydroxycoumarin và 7-methoxycoumarin cùng với bốn acridon alkaloid là oriciacridon, 5- hydroxynoracronycin, citruscinin-I và glycocitrin-III đã được phân lập từ rễ cây xáo tam phân (Trinh và cộng sự, 2016). Về mặt được tính, Nguyễn Minh Khởi và cộng sự công bố khảo sát độc tính cấp, tác dụng bảo vệ gan và tác dụng gây độc tế bảo ung thư trên 5 dòng tế bảo ung thư là ung thư gan HepG2, ung thư đại tràng HTC116, ung thư va MDA MB231, ung thư buồng trứng OVCAR-8 và ung thư cổ tử cung HeLa của cao chiết methanol, phân đoạn chiết n-hexan. Kết quả cho thay phan doan chiết n- hexan thé hiện hoạt tính ở mức độ trung bình (IC50 39,61 pg/mL) trên dòng tế bao ung thư gan HepG2 (Khởi va cộng sự, 2013).
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy cao methanol và cao nước của rễ cây xáo tam phân có tác dụng bảo vệ gan gần tương đương so với chất đối chứng dương sylimarin khi thực hiện trên mô hình gây tôn thương gan chuột bằng paracetamol. Kết quả cho thay, ở liều 10 g/kgP, cao nước xáo tam phân làm giảm nồng độ enzyme AST, ALT huyết thanh và hạn chế tổn thương gan gây ra bởi paracetamol liều 400 mg/kgP trên chuột; còn cao methanol xáo tam phân, ở liều 10 g/kgP cá tác dụng bảo vệ gan tương đương với sylimarin ở mức liều 50 mg/kgP (Thao va cộng sự, 2015). Nam 2017, Tuan Anh và cộng sự đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng xáo tam phân trong phòng ngừa và điều trị các bệnh viêm thần kinh, trong đó ostruthin và ninhvanin có thể có tác dụng điều trị tiềm năng va cần được xem xét dé phát triển thêm như là chất chống viêm thần kinh mới (Tuan Anh và cộng sự, 2017). Ngoài ra, cao chiết xáo tam phân (PTE) đã được chứng minh là có khả năng ức chế mạnh các tế bào ung thu MCF-7 tăng sinh.
PTE đã hạn chế hiệu quả sự xâm nhập của các khối u đa bào MCF-7, cũng như gây ra quá trình chết của các tế bào. Điều này cho thấy chiết xuất xáo tam phân là một ứng cử viên thuốc chống ung thư đầy hứa hẹn chống lại MCF-7 và các mô hình ung thư vú khác (Huyen và cộng sự, 2018). Một đánh giá về hoạt tính gây độc tế bào của chiết xuất từ rễ xáo tam phân trên hai đòng tế bảo ung thư tuyến tụy (đòng chính BxPc3 va dòng thứ cấp CFPAC1) đã chỉ ra rằng các hợp chất có hoạt tính sinh học được điều chế bằng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng có khả năng gây độc và chống lại tế bào ung thư tuyến tụy trong khoảng nồng độ từ 50 - 200 ug/mL (Nguyen & Scarlett, 2019). Thêm một nghiên cứu khác sâu hơn về khả năng phát triển thuốc điều trị ung thư, xáo tam phân có thé chống tăng sinh tế bao ung thư biểu mô gan HepG2 ở ICso 268,98 + 19,33 ug/ml, va có ít tác dụng phụ hơn trên tế bào gốc từ mô mỡ so với một trong những loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong hóa trị ung thư là doxorubicin (Truong và cộng sự, 2020).
Năm 2021, Van Anh và cộng sự đã nghiên cứu sự khác biệt về thành phần hóa học của hai loại cao chiết metanol từ vỏ cây đã khử béo bằng n- hexane và vỏ cây không khử chất béo của xáo tam phân bằng cách sử dụng các phản ứng so màu và sắc ký lỏng kết hợp với phân tích khối phổ có độ phân giải cao (LC- HRMS). Nghiên cứu cho thấy hoạt tính kháng khuẩn của hai loại cao chiết này chống lại các chủng vi khuan được phân lập lâm sàng từ các bệnh viện ở Việt Nam bao gồm P. aeruginosa, Salmonella sp. aureus với gia tri MIC < 100 pg/mL (Van Anh và cong su, 2021).
Các nghiên cứu trích ly hoạt chất sinh học từ xáo tam phân Với sự đa dạng về các hoạt chất sinh học có tác dung phòng và chữa bệnh, đã có khá nhiều nghiên cứu về quy trình trích ly, cũng như các quy trình chiết tách các hoạt chất quý từ cây xáo tam phân dé làm nguồn dược liệu. Năm 2015, Van Tang Nguyen và cộng sự đã khảo sát sự ảnh hưởng của dung môi (nước, acetonitrile, methanol, ethyl acetate, hexane) và các kỹ thuật trích ly (UAE, MAE) đến khả năng chiết các hoạt chất từ rễ cây xáo tam phân (phenolic, flavonoid, proanthocyanidin, saponin) và khả năng chống oxy hoá của chúng. Kết quả thu được, methanol kết hợp với vi sóng cho hiệu quả trích ly các hoạt chất cao nhất với hàm lượng TPC 42,25mgGAE/g chất khô và TSC 500,18 mgEE/g chất khô (Nguyen và cộng sự, 2015).