Tổng quan nghiên cứu

Ngành sản xuất gạch gốm ốp lát Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc với tốc độ bình quân đạt 20%/năm trong giai đoạn 2005 - 2008, đưa tổng công suất toàn quốc chạm mốc 255 triệu m2 gạch ốp lát và 45 triệu m2 gạch granite vào năm 2008. Tuy nhiên, ngành công nghiệp này đòi hỏi mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp đặc biệt lớn, trong đó chi phí nhiệt năng chiếm từ 30% đến 40% giá thành sản xuất. Phần lớn các nhà máy trong nước vận hành dây chuyền nhập khẩu đồng bộ từ châu Âu nhưng chưa tiến hành đánh giá chi tiết cân bằng nhiệt thực tế sau thời gian dài khai thác, dẫn đến hiện tượng thất thoát nhiệt lượng nghiêm trọng ra môi trường.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự lãng phí tài nguyên nhiệt tại các cụm thiết bị nhiệt độ cao và việc kiểm soát quá trình cháy chưa tối ưu. Đề tài tập trung giải quyết mục tiêu đo đạc, kiểm toán và phân tích định lượng hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại khu vực lò nung và lò sấy thuộc Dây chuyền 1 của Công ty Cổ phần Gạch men Ý-Mỹ tại Khu công nghiệp Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu xác định các dòng năng lượng hao phí, tính toán hiệu suất nhiệt và đề xuất các giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao nhằm hạ thấp định mức tiêu hao nhiên liệu.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên dây chuyền sản xuất có công suất thiết kế từ 7.000 đến 8.000 m2 gạch/ngày, tiêu thụ trung bình 33.507 m3 khí hóa than/ngày. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc nâng cao hiệu quả sinh nhiệt, giảm phát thải khí nhà kính và đáp ứng nghiêm ngặt định mức kỹ thuật theo Quyết định số 1586/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về quy hoạch phát triển ngành gốm sứ xây dựng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng định luật nhiệt động lực học thứ nhất và thứ hai để thiết lập phương trình cân bằng nhiệt lượng toàn phần cho lò nung thanh lăn và lò sấy công nghiệp. Mô hình cân bằng năng lượng bao gồm nhiệt lượng hữu ích cấp cho quá trình gia nhiệt sản phẩm gạch mộc, nhiệt mang vào từ nhiên liệu khí hóa than, nhiệt lượng tổn thất qua khói thải, tổn thất qua vỏ lò do bức xạ và đối lưu, cùng lượng nhiệt thất thoát theo sản phẩm sau làm mát.

Lý thuyết nhiệt kỹ thuật về quá trình cháy hỗn hợp khí than được sử dụng để xác định hệ số không khí thừa thông qua công thức tỷ lệ giữa nồng độ carbon dioxide cực đại lý thuyết và nồng độ carbon dioxide đo thực tế trong khói lò. Ba khái niệm chuyên ngành cốt lõi chi phối toàn bộ mô hình tính toán gồm:

  • Nhiệt trị thấp của khí hóa than với giá trị đạt khoảng 11.000 kJ/m3 sản sinh từ than cục 4A;
  • Suất tiêu hao nhiệt năng đơn vị trên một mét vuông sản phẩm (kcal/m2 hoặc MMBTU/m2) và trên một kilôgam sản phẩm (kcal/kg);
  • Cột áp tĩnh buồng góp khí đốt duy trì trong khoảng giới hạn 0,95 đến 1,0 kPa để đảm bảo tâm ngọn lửa ổn định tại các béc đốt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp tại 8 vị trí đo trọng yếu trên Dây chuyền 1, bao gồm hệ thống quạt hút khói A, quạt cấp gió cháy B, quạt làm mát trực tiếp C, quạt thải nhiệt gián tiếp D, quạt làm mát E, quạt hút ẩm lò sấy F, quạt thải khói G, cùng các quạt tăng áp H, I, J. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập qua chu kỳ vận hành trọn vẹn trong 24 giờ liên tục với sản lượng thực tế đạt 7.839 m2 gạch ceramic kích thước 50x50 cm, kết hợp bộ số liệu đối sánh lịch sử tiêu thụ năng lượng theo từng tháng trong giai đoạn 2012 - 2013.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại các điểm nút công nghệ được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác các thông số nhiệt động lực học của dòng môi chất. Thiết bị phân tích khí thải chuyên dụng được triển khai để xác định nồng độ các chất khí thành phần gồm oxy, carbon dioxide, carbon monoxide, nitrogen oxides và sulfur dioxide. Tốc độ dòng khí được đo bằng ống Pitot kết hợp cảm biến vi áp suất, trong khi nhiệt độ các vùng lò từ 60 °C đến 1.200 °C được giám sát bởi hệ thống can nhiệt tiêu chuẩn. Phương pháp phân tích cân bằng vật chất và năng lượng được lựa chọn vì tính chính xác tuyệt đối trong việc định lượng tổn thất nhiệt, làm cơ sở khoa học vững chắc để tính toán hiệu quả kinh tế kỹ thuật và thời gian hoàn vốn đầu tư. Toàn bộ quá trình khảo sát, đo đạc và tính toán được thực hiện từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình đo đạc thực nghiệm và phân tích dữ liệu trên Dây chuyền 1 đã chỉ ra 3 phát hiện kỹ thuật cốt lõi:

  • Suất tiêu hao nhiệt năng thực tế để nung và sấy gạch ceramic 50x50 cm đạt 11.248,41 kcal/m2, tương đương 1.004,32 kcal/kg sản phẩm hoặc 0,0446 MMBTU/m2. Chỉ số này đạt chuẩn quy định của Quyết định số 1586/QĐ-BXD (yêu cầu nhỏ hơn hoặc bằng 1.600 kcal/kg), nhưng đã gia tăng 5,6% so với định mức tiêu hao trong quá khứ của chính nhà máy là 0,0421 MMBTU/m2.
  • Nguồn nhiệt thải tại khu vực làm mát gián tiếp của lò nung bị lãng phí rất lớn. Quạt thải D liên tục xả bỏ ra môi trường lưu lượng khí nóng lên tới 32.000 m3/h với nhiệt độ đo được từ 276 °C đến 300 °C. Cùng với đó, quạt thải vùng làm mát E xả dòng khí ở mức nhiệt 292,8 °C với vận tốc 10,1 m/s.
  • Hệ số không khí thừa thực tế tại lò nung bị tăng cao bất thường lên mức 2,5, vượt 56% so với ngưỡng kinh nghiệm chuẩn đối với quá trình đốt nhiên liệu khí là 1,05 đến 1,1. Nồng độ carbon dioxide cực đại tính toán đạt 18,4% so với giá trị đo 7,33%, khiến hiệu suất cháy của lò nung chỉ đạt 81,2% và lò sấy chỉ đạt 19,3%, đồng thời lượng carbon monoxide thất thoát ra ống khói lên tới 79 ppm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến hệ số không khí thừa tăng vọt xuất phát từ hiện tượng không khí lạnh bên ngoài xâm nhập qua các cửa nạp liệu và khe hở cơ khí đầu lò do quạt hút vận hành ở áp suất âm lớn. Hiện tượng này làm loãng khói lò, cuốn theo các phần tử khí than chưa kịp cháy kiệt ra ngoài ống thải, trực tiếp làm suy giảm hiệu suất truyền nhiệt tại vùng tiền nung (nhiệt độ dao động 578 - 680 °C). Mức tiêu hao nhiên liệu tăng 5,6% phản ánh tình trạng xuống cấp tự nhiên của các lớp vật liệu bảo ôn, gạch chịu lửa và sợi bông khoáng cách nhiệt bên trong thân lò sau nhiều năm vận hành liên tục.

Dữ liệu nhiệt độ và áp suất tại các vùng công nghệ có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bố nhiệt dọc thân lò và biểu đồ Sankey thể hiện dòng truyền năng lượng. Bảng cân bằng nhiệt chỉ rõ rằng năng lượng hữu ích nung kết sản phẩm chỉ chiếm một phần, trong khi tổn thất nhiệt qua khói thải và làm mát gián tiếp chiếm tỷ trọng áp đảo.

So với các dây chuyền sản xuất tiên tiến trên thế giới vốn đạt tỷ lệ thu hồi nhiệt trên 85%, việc tháo dỡ tuyến ống thu hồi khí nóng trước đây của nhà máy là một bước lùi kỹ thuật. Tình trạng này bắt nguồn từ việc sử dụng quạt cấp gió thông thường không chịu nhiệt, dẫn đến hỏng ổ trục, kẹt bạc đạn và gây mất ổn định áp suất buồng đốt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa hiệu quả nhiệt năng và triệt tiêu các lãng phí nhiên liệu trên dây chuyền sản xuất gạch men, 4 giải pháp đồng bộ được kiến nghị triển khai:

  • Cải tạo hệ thống thu hồi không khí nóng tại khu vực làm mát gián tiếp cấp trực tiếp cho các béc đốt vùng nung. Đơn vị kỹ thuật cần thay thế quạt cấp gió thường bằng quạt ly tâm chuyên dụng chịu nhiệt độ cao từ 300 °C trở lên với công suất điện 11 - 15 kW. Quá trình vận hành phải căn chỉnh và duy trì ổn định cột áp tĩnh tại bộ góp khí trong giới hạn 0,95 đến 1,0 kPa, giúp ngọn lửa hội tụ chính xác tại tâm vùng nung (1.100 - 1.200 °C) và tiết kiệm lượng khí than đáng kể. Thời gian hoàn thành trong vòng 3 tháng do Ban Kỹ thuật Cơ nhiệt phụ trách.
  • Lắp đặt tuyến ống dẫn thu hồi nhiệt khói thải lò nung để cung cấp nhiệt năng cho buồng đốt lò sấy phụ. Giải pháp này tận dụng dòng khí thải nhiệt độ cao để sấy khô gạch sau công đoạn mài cạnh và rửa nước, thay thế hoàn toàn lượng nhiên liệu đốt độc lập tại lò sấy phụ là 7.379 m3 khí than/ngày. Thời gian thi công dự kiến 4 tháng do Phòng Quản lý Năng lượng chủ trì.
  • Điều chỉnh chế độ hòa trộn nhiên liệu và kiểm soát hệ số không khí thừa. Đội ngũ kỹ sư vận hành cần hiệu chỉnh lưu lượng gió cấp sơ cấp và thứ cấp, kéo giảm hệ số không khí thừa từ 2,5 xuống khoảng 1,1 đến 1,15, nâng hiệu suất cháy của buồng đốt lên trên 90% và hạ nồng độ carbon monoxide xuống dưới 20 ppm. Thời gian triển khai ngay trong 1 tháng.
  • Trùng tu, gia cố lớp vật liệu cách nhiệt và gioăng làm kín vỏ lò. Bộ phận bảo trì cần tiến hành thay mới các khối bông gốm ceramic chịu lửa bị xẹp lún định kỳ 6 tháng/lần, khắc phục triệt để mức tổn thất nhiệt truyền dẫn 5,6% qua vỏ thiết bị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và phương pháp luận sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Giám đốc nhà máy, Quản đốc phân xưởng và Kỹ sư vận hành nhiệt tại các cơ sở sản xuất gạch ốp lát ceramic, gạch granite và gốm sứ xây dựng. Tài liệu cung cấp quy trình chẩn đoán điểm nghẽn nhiệt, phương pháp kiểm soát áp suất béc đốt và các thông số vận hành chuẩn để cắt giảm chi phí khí đốt ngay trên dây chuyền hiện hữu.
  • Chuyên gia kiểm toán năng lượng và kỹ sư tư vấn giải pháp hiệu quả tài nguyên công nghiệp. Luận văn cung cấp biểu mẫu tính toán cân bằng nhiệt, công thức định lượng suất tiêu hao thực tế và phương pháp luận đo đạc khói thải bằng thiết bị hiện trường.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công nghệ Nhiệt, Kỹ thuật Năng lượng, Cơ khí Năng lượng. Công trình đóng vai trò như một case study điển hình về tích hợp hệ thống nhiệt công nghiệp và thu hồi nhiệt thải thực tế.
  • Các nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và công thương. Luận văn là cơ sở tham chiếu tin cậy để thẩm định công nghệ, xây dựng chính sách định mức năng lượng ngành vật liệu xây dựng theo tiêu chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hệ số không khí thừa tại lò nung đo được lên tới mức 2,5?
Hệ số không khí thừa tăng cao do không khí ngoài môi trường lọt qua cửa lò khi quạt hút vận hành ở áp suất âm lớn. Đồng thời, quạt hút ẩm hoạt động với vận tốc cao kéo theo khí than chưa kịp cháy ra ngoài, khiến tỷ lệ oxy tự do tăng lên 12,64% và hiệu suất cháy giảm còn 81,2%.

Vì sao hệ thống thu hồi khí nóng làm mát từng bị nhà máy dỡ bỏ trước đây?
Thiết kế ban đầu sử dụng quạt cấp khí không chịu được nhiệt độ cao làm chảy mỡ bôi trơn, kẹt bạc đạn và cháy động cơ. Ngoài ra, việc hòa trộn khí nóng làm gia tăng đột biến tĩnh áp tại ống góp, đẩy ngọn lửa béc đốt lệch tâm và làm tắt lò nung.

Suất tiêu hao nhiệt năng thực tế của Dây chuyền 1 có đạt quy chuẩn nhà nước không?
Suất tiêu hao thực tế đạt 1.004,32 kcal/kg sản phẩm, hoàn toàn đáp ứng ngưỡng giới hạn dưới 1.600 kcal/kg đối với gạch ceramic theo Quyết định số 1586/QĐ-BXD. Tuy nhiên, chỉ số này vẫn cao hơn 5,6% so với định mức 0,0421 MMBTU/m2 trong lịch sử của nhà máy.

Giải pháp cấp nhiệt khói thải cho lò sấy phụ mang lại tiềm năng gì?
Lò sấy phụ tiêu thụ tới 7.379 m3 khí than/ngày để làm khô gạch kích thước từ 50x50 cm sau khi mài nước. Việc dẫn nhiệt thải từ ống khói lò nung sang buồng sấy phụ giúp triệt tiêu hoàn toàn lượng khí than này, tạo ra khoản tiết kiệm chi phí nhiên liệu rất lớn mỗi năm.

Doanh nghiệp cần kiểm soát thông số nào khi tái lập tuyến thu hồi khí nóng?
Doanh nghiệp bắt buộc phải trang bị quạt ly tâm chịu nhiệt chuyên dụng (nhiệt độ làm việc trên 300 °C) và lắp đặt biến tần điều khiển lưu lượng. Thông số cốt lõi cần giám sát liên tục là cột áp tĩnh của bộ góp khí béc đốt, luôn duy trì trong khoảng 0,95 đến 1,0 kPa.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện hiện trạng tiêu hao năng lượng tại Dây chuyền 1 Công ty Cổ phần Gạch men Ý-Mỹ với tổng mức tiêu thụ 33.507 m3 khí hóa than/ngày cho sản lượng 7.839 m2 gạch/ngày.
  • Xác định chính xác suất tiêu hao nhiệt thực tế đạt 1.004,32 kcal/kg (11.248,41 kcal/m2), đáp ứng tiêu chuẩn Quyết định số 1586/QĐ-BXD nhưng phát hiện mức gia tăng hao phí 5,6% do suy giảm cách nhiệt.
  • Chỉ rõ nguồn nhiệt thải khổng lồ chưa tận dụng tại quạt D (lưu lượng 32.000 m3/h, nhiệt độ 276 - 300 °C) và hiện tượng cháy thừa khí nghiêm trọng với hệ số không khí thừa lên tới 2,5.
  • Đề xuất 2 giải pháp công nghệ thu hồi nhiệt không khí nóng cấp cho béc đốt và khói thải cấp cho lò sấy phụ, giải quyết triệt để vấn đề 7.379 m3 khí than lãng phí mỗi ngày.
  • Đóng góp bộ phương pháp luận kiểm toán nhiệt thực chứng có khả năng nhân rộng cho hơn 80 nhà máy sản xuất gạch ốp lát trên cả nước.

Doanh nghiệp cần sớm thành lập ban dự án cải tạo năng lượng để triển khai lắp đặt hệ thống quạt chịu nhiệt và đường ống thu hồi nhiệt thải trong lộ trình 3 đến 6 tháng tới. Việc chủ động đầu tư nâng cấp công nghệ nhiệt là bước đi chiến lược giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất, gia tăng năng lực cạnh tranh và phát triển mô hình công nghiệp xanh bền vững.