MỞ ĐẦU Ngày nay, tiểu đường, ung thư và tim mạch nằm trong nhóm các loại bệnh phổ biến của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Để ngăn ngừa các loại bệnh tật này, một chế độ ăn uống có nhiều các hợp chất tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật được kiến nghị. Những hợp chất tự nhiên này bao gồm các hợp chất kháng oxi hoá hoặc những hợp chất có lợi cho sức khoẻ khác [1-7]. Chúng bao gồm flavonoid, hợp chất phenolic, hợp chất chứa sulfur, tannin, alkaloid, phenolic diterpene và vitamin.
Chúng có hoạt tính kháng oxi hoá đa dạng. Chẳng hạn, các hợp chất phenolic có khả năng chống oxi hoá chủ yếu nhờ vào khả năng hoạt động như là chất khử, chất cho nguyên tử hydro và tiêu diệt nguyên tử oxy đơn. Một số hợp chất phenolic còn có khả năng tạo phức với ion kim loại (thường đóng vai trò là chất xúc tác) làm chúng vô hoạt. Các hợp chất flavonoid là những hợp chất vòng thơm có nhiều nhóm hydroxyl, có khả năng tiêu diệt gốc tự do như là gốc tự do hydroxyl, peroxyl and superoxide.
Những hợp chất kháng oxi hoá tự nhiên cũng có khả năng làm giảm stress do oxi hoá. Stress do oxi hoá gây ra bởi nhiều yếu tố như là chiếu xạ tia gamma, tia cực tím, X-ray, stress do sinh lý cảm xúc, do thức ăn hay môi trường bị ô nhiễm, do hút thuốc, uống rượu hoặc nghiện thuốc. Những stress oxi hoá này được cho là dẫn tới nhiều loại bệnh như là ung thư, tim mạch và lão hoá [8]. Một số thực vật còn chứa các hợp chất có tính kháng enzyme tiêu hoá thuỷ phân tinh bột (α-amylase and α- glucosidase) giúp duy trì đường huyết ở mức bình ổn ngăn ngừa bệnh tiểu đường.
Một trong những nguồn thực vật chứa nhiều hợp chất kháng oxi hoá và các hợp chất có lợi cho sức khoẻ khác là các loại rau thơm hay thảo mộc. Việt Nam với khí hậu nhiệt đới có đa dạng các loại rau thơm khác nhau như là bạc hà, húng chó, húng quế, húng lủi, hành, tía tô, kinh giới, v. Mặc dù nhiều loại rau thơm đã được sử dụng như một vị thuốc dân gian, những nghiên cứu về các hợp chất có hoạt tính trong các giống rau thơm của Việt Nam còn rất hạn chế. Một trong số đó là húng quế.
Húng quế có tên khoa học là Ocimum basilicum var. thyrsiflora, thuộc nhóm rau mùi basil. Cái tên basil lấy từ tiếng Hy Lạp basilikohn, có nghĩa "đế vương," do người Hy Lạp xưa rất quý basil vì họ dùng nó làm nên nhiều loại thuốc. Mặc dù rau mùi basil được trồng nhiều nơi trên thế giới, loại húng quế Ocimum basilicum var.
thyrsiflora đặc trưng cho vùng Đông Nam Á [9]. Nhiều nghiên cứu trên rau mùi basil cho thấy chúng có nhiều tác động có lợi lên sức khoẻ. Chẳng hạn, chiết xuất ethanol của lá basil O. Sanctuarytum đã được chứng minh có tác động tích cực lên hệ thần kinh trung ương [10], có lẽ là do hoạt tính kháng oxi hoá của dịch chiết xuất.
Chiết xuất basil được chứng minh có hoạt tính kháng oxi hoá bền trong khoảng pH và nhiệt độ rộng. Những hoạt tính này được thể hiện thông qua khả năng quét anion superoxide, khả năng khử ion sắt hoá trị 2 và phụ thuộc vào nồng độ [11]. Những hợp chất được cho là có hoạt tính kháng oxi hoá trong lá basil bao gồm terpenoid, flavonoid, tocopherol và các hợp chất phenolic. Ngoài ra, tinh dầu trong basil có cũng hoạt tính kháng oxi hoá, như là sesquiterpene eugenol và 1,8-cineole có trong O.
Theo một nghiên cứu của [13], eugenol, thymol, carvacrol và 4-allylphenol là những hợp chất tinh dầu có hoạt tính kháng oxi hoá mạnh, tương đương với các chất kháng oxi hoá phổ biến như là α-tocopherol và butylated hydroxy toluene (BHT). Ngoài ra, các loại lá basil cũng được chứng mình có tính chất kháng viêm và bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng của chiếu xạ [14, 15]. Dịch chiết xuất bằng nước của lá basil của có hoạt tính kháng enzyme α-amylase and α-glucosidase giúp kiểm soát bệnh tiểu đường [16]. Để thu được các hợp chất sinh học trong các nguyên liệu thực vật với hàm lượng và hoạt tính cao, điều kiện sấy và trích ly cần phải được lựa chọn và kiểm soát tốt.
Sấy khô là một trong 13 những phương pháp lâu đời nhất để bảo quản thực phẩm và nó là một kỹ thuật rất quan trọng trong chế biến thực phẩm. Mục đích của việc sấy khô là để kéo dài thời gian lưu trữ, giảm chi phí đóng gói và vận chuyển. Ngoài ra, sấy khô các loại thảo mộc cũng giúp ức chế sự phát triển của vi sinh vật và một số thay đổi sinh hóa. Trước khi trích ly, sấy khô còn có tác dụng giảm hàm lượng ẩm giúp làm tăng hiệu quả quá trình trích ly.
Tuy nhiên, quá trình sấy khô cần phải được kiểm soát cẩn thận vì nó có thể dẫn đến sự thay đổi ảnh hưởng đến chất lượng thảo mộc, chẳng hạn như thay đổi về hình thái và mùi hương do sự thất thoát các chất bay hơi hoặc sự hình thành các chất bay hơi mới do phản ứng oxy hóa hoặc phản ứng este hóa [17, 18]. Sấy khô được cho là có ảnh hưởng đến các hợp chất dễ bay hơi có trong lá basil, chẳng hạn tổng lượng tinh dầu giảm khoảng 36-45% khi sấy khô ở nhiệt độ thường [19]. Trong quá trình sấy khô bằng không khí nóng, nhiệt độ là một trong những thông số quan trọng nhất cần được kiểm soát. Nhiệt độ không khí được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chống oxy hóa và tính ổn định của các hợp chất phenolic trong lá dâu tằm.
Hoạt tính chống oxy hóa trong lá dâu tằm ít thay đổi khi sấy khô ở 60oC và giảm mạnh khi sấy khô từ 70oC trở lên [20]. Trong một nghiên cứu khác, hàm lượng phenolic và hoạt động chống oxy hóa của vỏ bưởi đỏ được kết luận là không thay đổi ở 60oC trong khi tổn thất của chúng được ghi nhận ở 100oC và 140oC [21]. Nghiên cứu giải thích việc giảm hàm lượng phenolic của các mẫu sấy khô ở nhiệt độ cao là do sự phân hủy nhiệt của các hợp chất phenolic bởi nhiệt. Việc chiết xuất các hợp chất hoạt tính sinh học từ các nguồn thực vật sấy khô là mong muốn bởi vì dịch chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học này thường được sử dụng để điều chế các chất bổ sung chế độ ăn uống, dược phẩm, thành phần thực phẩm chức năng và phụ gia thực phẩm.
Do tính đa dạng về thành phần các hợp chất sinh học có trong các nguồn nguyên liệu tự nhiên, cũng như do tính đa dạng về cấu trúc và các tính chất lý hóa của những thành phần này, không thể có một quy trình chuẩn cho việc chiết xuất và do đó những quy trình cụ thể cần được thiết kế và tối ưu hóa cho từng nguồn nguyên liệu [22, 23]. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trích ly như là loại dung môi, pH, nhiệt độ, tỉ lệ dung môi với chất rắn, kích thước và hình dạng của nguyên liệu [24]. Chiết xuất dung môi từ nguyên liệu thực vật xay xát bao gồm bước đầu tiên là trương nở, là sự hấp phụ dung môi vào trong pha rắn. Sự hấp phụ này được gây ra bởi lực thẩm thấu, mao dẫn và sự hòa tan của các ion trong khối chất rắn.
Các chất tan có trong nguyên liệu thực vật được chiết xuất ra bằng quá trình khuyến tán và quá trình hòa tan bằng các phản ứng thủy phân những hợp chất không tan cũng có thể xảy ra. Sau đó là các hiện tượng khuếch tán, trước tiên xảy ra bên trong nguyên liệu thực vật và sau đó là qua lớp ngoài bao quanh các mẫu thực vật [22, 24]. Mặc dù đã còn nhiều nghiên cứu về các tác dụng của dịch chiết xuất từ lá basil, hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên lá basil (húng quế, Ocimum basilicum var. thyrsiflora) của Việt Nam.
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới rất thích hợp trồng nhiều loại cây rau thơm khác nhau. Mặc dù những loại rau thơm của Việt Nam có nhiều tiềm năng về giá trị y học, hiện chúng chủ yếu chỉ được dùng làm gia vị, chưa được ứng dụng cụ thể vào y học. Nguyên nhân là do chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện trên các giống rau thơm của Việt Nam. Do đó, nghiên cứu trong đề tài này ngoài việc cung cấp dữ liệu khoa học về các tác dụng có lợi cho sức khỏe của lá húng quế còn giúp tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo trên các loại rau thơm và gia vị của Việt Nam.
Từ đó giúp đem lại giá trị gia tăng có những loài rau thơm và gia vị chưa được khai thác hết công dụng. 14 Do đó, mục đích của đề tài này là khảo sát điều kiện thích hợp để sấy khô lá húng quế và tối ưu hóa điều kiện chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học cao của lá. Cụ thể, các mục tiêu chính như sau: Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử lý chần và nhiệt độ không khí lên động học sấy của lá húng quế. Khảo sát thời gian sấy thích hợp bằng cách điều chỉnh dữ liệu thí nghiệm với các mô hình toán học khác nhau có sẵn trong tài liệu.
Khảo sát độ khuếch tán ẩm của mẫu và năng lượng hoạt hóa của quá trình sấy. Đánh giá ảnh hưởng của quá trình xử lý chần và nhiệt độ không khí đến hoạt tính sinh học của lá sấy khô. Tối ưu hóa điều kiện chiết xuất các hợp chất phenolic của lá húng quế khô và đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết. Tối ưu hóa điều kiện chiết xuất các hợp chất phenolic của lá húng quế tươi và đánh giá hoạt tính sinh học của dịch chiết.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lá húng quế Húng quế (Ocimum basilicum L.) là một loại dược liệu và thảo mộc ẩm thực phổ biến. Có hơn 30 loài thảo mộc và cây bụi từ các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, châu Phi và Trung và Nam Mỹ, nhưng nơi có sự đa dạng chính là châu Phi. Loại thảo mộc này có nguồn tinh dầu và hợp chất tạo hương thơm, có mùi thơm hấp dẫn [26].
Một nghiên cứu đã phân các giống O. basilicum thành bảy loại (Hình 1.1): (1) loại cao mảnh mai, bao gồm nhóm húng quế ngọt; (2) loại lá to, chắc, gồm ‘Lá diếp’ còn gọi là húng ‘Ý’; (3) loại lùn, ngắn và lá nhỏ, chẳng hạn như húng quế 'Bush'; (4) loại nhỏ gọn, O.