Chương I: Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên 11 du lịch và kết cấu hạ tầng của Việt Nam CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Anh/Chị hãy trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam 2. Hiện nay, Việt Nam đang khai thác chủ yếu các loại hình du lịch nào? Vì sao? 3. Sự phân bổ nguồn tài nguyên du lịch tác động như thế nào trong hoạt động du lịch ở nước ta hiện nay? 4.
Anh/Chị hãy đánh giá cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch nước ta hiện nay và trong tương lai? Chương II: Tuyến điểm du lịch vùng Bắc 12 Bộ Chương II: TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VÙNG BẮC BỘ Chương này trình bày khái quát về vùng du lịch Bắc Bộ, các loại hình du lịch đặc trưng của vùng. Xây dựng một số tuyến điểm du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG DU LỊCH BẮC BỘ 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và điều kiện nhân văn 1.
Vị trí địa lý Vùng có diện tích 149.064km2, bao gồm 29 tỉnh, thành phố, từ Hà Giang đến Hà Tĩnh, với Thủ đô Hà Nội là trung tâm tạo vùng và có tam giác tăng trưởng du lịch: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Vùng có 7 tỉnh ở phía bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên) giáp với Trung Quốc. Có 5 tỉnh phía tây (Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) giáp với Lào, phía đông giáp vịnh Bắc Bộ với bờ biển dài l.000km và hàng nghìn đảo nhỏ. Vị trí địa lý của vùng thuận lợi cho phát triển giao lưu kinh tế văn hóa, du lịch, đặc biệt là du lịch biên mậu.
Điều kiện tự nhiên Vùng du lịch Bắc Bộ thể hiện đầy đủ và tập trung nhất về hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam. Thiên nhiên ở đây đa dạng, phong phú, mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới ẩm gió mùa. Địa hình: Vùng có địa hình núi cao, hiểm trở nhất cả nước, hướng núi chủ yếu là tây bắc - đông nam và hướng vòng cung, có dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phanxipăng cao 3143m - cao nhất bán đảo Đông Dương, có hệ thống núi đá vôi từ Hoà Bình đến Thanh Hoá. Vùng có lịch sử kiến tạo cổ, được nâng lên vào cuối đại Tân sinh.
Vùng còn có địa hình đồng bằng châu thổ do phù sa của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình bồi đắp và một số đồng bằng giữa núi như Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Than Uyên. Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm của vùng từ 21 - 24°C, tổng bức xạ nhiệt 130kcal/cm2. Số giờ nắng 1.700 giờ/năm, độ ẩm 80%, lượng mưa trung bình 1.000mm, có mùa đông lạnh. Vùng có khí hậu không ổn định, nhiều thiên tai, tuy nhiên, nhìn chung thích hợp cho phát triển du lịch.
Động - thực vật: Phong phú, có nhiều khu rừng nhiệt đới nguyên sinh. Sông hồ: Có mật độ sông dày: l,6km sông/l km2 diện tích. Các sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam: sông Hồng, sông Đà, sông Chảy, sông Lô. Chương II: Tuyến điểm du lịch vùng Bắc 13 Bộ 1.
Điều kiện nhân văn Vùng là nơi diễn ra những sự kiện lớn trong suốt quá trình lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, vùng còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hoá, nghệ thuật có giá trị, nhiều truyền thuyết dân gian, vùng cũng là nơi sinh ra nhiều danh nhân kiệt xuất như Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh. Vùng là nơi có các nền văn hóa xuất hiện từ thời tiền sử như nền văn minh lúa nước, văn hóa Đông Sơn. Vùng cũng là nơi có nhiều nét phong phú, đặc sắc về văn hoá các tộc người.
Vùng có truyền thống sản xuất lúa nước, sản xuất thủ công nghiệp lâu đời, có nhiều thành phố, trung tâm công nghiệp, có Hà Nội là thủ đô và trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (KHKT) của cả nước. Tài nguyên du lịch 2. Tài nguyên du lịch tự nhiên Vùng có nhiều điểm du lịch có phong cảnh đẹp, hùng vĩ, thơ mộng như vùng núi Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì là những nơi nghỉ mát nổi tiếng ở độ cao trên 1000m, khí hậu mát mẻ. Vùng có nhiều cánh rừng già nguyên sinh, là các khu bảo tồn, các vườn quốc gia như Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Vì, Ba Bể, Xuân Thủy, Pù Mát, Hoàng Liên, … có hệ sinh thái rừng nhiệt đới điển hình với hàng nghìn loài thực vật và động vật, đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học.
Có nhiều dạng địa hình karst với các hàng động nổi tiếng như Hương Sơn, Tam Cốc – Bích Động, Tam Thanh…. Có nhiều bãi biển đẹp với bãi cát mịn, phẳng, nước trong xanh: Bãi Cháy, Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò… Đặc biệt vùng có danh lam thắng cảnh Hà Long được UNESCO xếp hạng di sản thiên nhiên thế giới với nhiều hang động, đảo đá hùng vĩ. Vùng còn có nhiều hồ tự nhiên nổi tiếng như hồ Ba Bể, Hồ Tây. Nhìn chung, vùng có nhiều ánh nắng, phù hợp với mọi hoạt động du lịch, có thể khai thác quanh năm, đặc biệt là loại hình du lịch nghỉ mát, tắm biển về mùa hè.
Vùng có nhiều nguồn nước khoáng: Kim Bôi (Hoà Bình), Quang Hanh (Quang Ninh), Tiền Hải (Thái Bình), Tiên Lãng (Hải Phòng), Mỹ Lâm (Tuyên Quang). đạt tiêu chuẩn chất lượng cao dùng cho giải khát, chữa bệnh. Các đặc sản: - Biển: tôm hùm, cá thu, chim, sò huyết, cua, bào ngư. Chương II: Tuyến điểm du lịch vùng Bắc 14 Bộ - Rừng: măng, nấm hương, các dược liệu: sâm, nhung, tam thất, hồi, quế, thảo quả.
Tài nguyên du lịch nhân văn Vùng đã tìm thấy nhiều di vật khảo cổ như công cụ sản xuất bằng đá, trống đồng, đồ kim khí, đồ gốm chứng minh cho nền văn hoá Sơn Vi, Núi Đọ, Hòa Bình, Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Gò Đậu, Đồng Mun, Đông Sơn, Hạ Long thời tiền sử. Vùng có nhiều di tích lịch sử, có ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghiên cứu khoa học. Vùng còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá tinh thần, các làn điệu dân ca như hát chèo, xoan, ghẹo, quan họ; hát văn, hát tuồng, ví dặm, hát lượn; âm nhạc: chiêng, khèn; các điệu múa dân tộc: múa xoè, múa khèn, múa ô, mua sạp, múa rối nước. Vùng có nhiều lễ hội truyền thống: Đền Hùng (Phú Thọ), Côn Sơn – Kiếp Bạc (Hải Dương), Hội Lim, Hội Gióng, Đồng Kỵ (Bắc Ninh), hội Chùa Hương (Hà Tây), chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng).
Vùng còn có nhiều loại hình kiến trúc, mỹ thuật như chùa Kim Liên, chùa Một Cột (Hà Nội), chùa Cổ Lễ (Nam Định), chùa Tây Phương (Hà Tây), Nhà Cổ, Thành Cổ (Hoàng Thành Thăng Long). Vùng tập trung nhiều viện bảo tàng lớn, có giá trị nhất cả nước: bảo tàng Lịch sử, bảo tàng Cách mạng, bảo tàng Mỹ thuật, bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Dân tộc học (ở Hà Nội), bảo tàng các Dân tộc Việt Nam ở Thái Nguyên. Những di tich văn hoá lịch sử của vùng thường được gắn liền, hoà quyện với vẻ đẹp thiên nhiên tạo nên phong cảnh trữ tình thơ mộng và có giá trị hấp dẫn du khách như Hạ Long, Hương Sơn, Hoa Lư, Bích Động, Lạng Sơn, Đền Hùng, Hồ Tây. Kinh tế - xã hội Vùng có truyền thống về sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp lâu đời, hiện đang tiếp cận với những thành tựu KHKT trên thế giới.
Nền kinh tế của vùng đang được đổi mới, chất lượng cuộc sống của người dân đang được nâng cao tạo tiền đề cho cơ sở vật chất kỹ thuật và nhu cầu cho việc phát triển du lịch. Vùng có nhiều sản phẩm nhiệt đới cung cấp cho du lịch như gạo tám, gạo nếp, đào Sa Pa, mận Bắc Hà, bưởi Đoan Hùng, cam Bố Hạ, nhãn Hưng Yên, vải Thanh Hà. Vùng cũng có nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ như “mây tre đan, thêu, đan len, sơn mài, gốm sứ, chạm khắc, dệt thổ cẩm, các sản phẩm từ cói. được du khách nước ngoài ưa thích.
Dân cư của vùng cần cù sáng tạo, giàu lòng mến khách, tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Chương II: Tuyến điểm du lịch vùng Bắc 15 Bộ Vùng có cơ sở hạ tầng tương đối tốt, với nhiều loại hình giao thông. Hà Nội là trung tâm giao thông của vùng, từ Hà Nội có nhiều tuyến đường giao thông đến các địa phương, các tỉnh, các điểm du lịch trong vùng Về đường bộ: Từ trung tâm Hà Nội, có các tuyến đường nối với các tỉnh trong vùng. Quốc lộ 1A nối Hà Nội - Lạng Sơn và Hà Nội với các tỉnh vùng đông bằng Bắc Bộ và các tỉnh khác; đường số 2 từ Hà Nội đi các tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ, Tuyên Quang; đường số 3 từ Hà Nội đi các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng; đường số 4 nối liền các tỉnh biên giới phía Bắc; quốc lộ 6 nối Hà Nội với các tỉnh khu vực Tây Bắc; quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Dương … Ngoài ra các tuyến đường bộ liên tỉnh, liên huyện trong vùng có chất lượng tương đối tốt.
Nhìn chung, hệ thống giao thông vận tải của vùng thuận tiện cho việc quy hoạch tổ chức các tuyến điểm du lịch. Tuy nhiên, tuyến đường đến một số điểm du lịch ở miền núi như Sa Pa, Trà Cổ, hồ Ba Bể, Pác Bó. đường còn nhỏ, mùa mưa hay bị sạt lở, chất lượng chưa tốt, chưa thuận tiện cho hoạt động du lịch. Vùng hiện tại cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện, nước sạch, thông tin liên lạc cho các hoạt động du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Ở nhiều trung tâm hoặc các điểm du lịch của vùng đã xây dựng được hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ cho du khách. Tuy nhiên, trong vùng còn thiếu các cơ sở vui chơi giải trí. Hà Nội là trung tâm lưu trú lớn nhất của vùng, ở đây có nhiều khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống có chất lượng cao, ngoài ra còn có các cơ sở vui chơi giải trí, các trung tâm thương mại, đáp ứng nhu cầu về dịch vụ du lịch đa dạng và phong phú của du khách. Hải Phòng và Hạ Long cũng là những đô thị có cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phát triển và nhiều khách sạn quốc tế đã được xếp hạng.