Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn vừa qua ghi nhận sự bứt phá ấn tượng về quy mô và doanh thu. Năm 2010, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng 34,8% so với năm 2009. Tiếp nối đà tăng trưởng đó, trong 8 tháng đầu năm 2011, lượng khách quốc tế tiếp tục tăng 18,4%, phục vụ khoảng 23 triệu lượt khách nội địa và mang lại doanh thu 85 nghìn tỷ đồng, đạt 77,3% kế hoạch năm. Trong cơ cấu sản phẩm du lịch, nghệ thuật biểu diễn dân gian đóng vai trò điểm nhấn văn hóa hàng đầu, nơi hầu hết du khách quốc tế đến Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đều lựa chọn thưởng thức múa rối nước như một trải nghiệm không thể bỏ qua.

Đồng bằng Bắc Bộ với diện tích chiếm 4,5% cả nước và quy mô dân số đạt 19,94 triệu người (chiếm 22,82% dân số cả nước năm 2009) là cái nôi duy nhất sản sinh ra nghệ thuật múa rối nước. Dù đã được đệ trình lên UNESCO xem xét công nhận là di sản văn hóa phi vật thể từ năm 2002, việc khai thác giá trị của múa rối nước phục vụ du lịch vẫn còn rời rạc, thiếu chiến lược đồng bộ.

Luận văn tập trung nghiên cứu việc khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối nước tại vùng đồng bằng Bắc Bộ phục vụ phát triển du lịch trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2011. Đề tài nhằm nhận diện các giá trị tạo hình, diễn xướng, không gian biểu diễn; phân tích thực trạng khai thác tại 14 phường rối dân gian và 2 nhà hát chuyên nghiệp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch, phấn đấu gia tăng nguồn thu dịch vụ văn hóa thêm 20% đến 30% cho cộng đồng địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn áp dụng lý thuyết địa - văn hóa và địa - lịch sử để kiến giải nguồn gốc sản sinh của múa rối nước từ môi trường tự nhiên châu thổ sông Hồng. Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, nền nhiệt trung bình hàng năm 25 độ C cùng lượng mưa từ 1700mm đến 2400mm, điều kiện thủy văn và tập quán canh tác lúa nước đã định hình nên nghệ thuật biểu diễn trên mặt nước độc nhất vô nhị.

Khung nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cơ bản gồm: giá trị văn hóa phi vật thể, sản phẩm du lịch đặc thù, chuỗi giá trị du lịch di sản và quản trị bảo tồn thích ứng. Nghệ thuật múa rối nước được xác định là sản phẩm tổng hợp cấu thành từ nghệ thuật tạo hình (điêu khắc gỗ sung, gỗ thừng mực), kỹ nghệ cơ khí điều khiển ngầm (máy sào, máy dây) và nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống (hát Chèo, dân ca Quan họ). Khung phân tích nhấn mạnh yêu cầu duy trì tính nguyên bản của di sản đạt trên 85% trong cấu trúc chương trình biểu diễn nhằm bảo đảm sự phát triển du lịch bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống kết hợp thu thập và xử lý đa tầng dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn 2000 - 2011. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 14 phường múa rối nước dân gian tại các tỉnh châu thổ sông Hồng, 4 phường rối cạn tiêu biểu (như Đào Thục, Đồng Ngư), 2 nhà hát chuyên nghiệp gồm Nhà hát Múa rối Việt Nam và Nhà hát Múa rối Thăng Long, cùng điểm tham quan Bảo tàng Dân tộc học. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát hơn 200 du khách quốc tế và 50 nghệ nhân địa phương.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các đơn vị có hoạt động thường xuyên, có cơ sở vật chất thủy đình cố định hoặc lưu động, và có kinh nghiệm đón tiếp khách du lịch. Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp tham vấn chuyên gia (Chủ tịch Liên chi hội Múa rối Việt Nam, cán bộ bảo tồn, trưởng các phường rối) được lựa chọn nhằm giải mã chính xác các bí quyết tạo tác và kỹ thuật điều khiển sào dài từ 2,5m đến 3m dưới nước, đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định lịch sử múa rối nước trải qua 6 thời kỳ phát triển, khởi nguồn từ thế kỷ 11 thời nhà Lý gắn với công lao của Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072 - 1116) tại chùa Thầy, qua giai đoạn phục hồi sau năm 1954 và bùng nổ chuyên nghiệp hóa sau đổi mới năm 1986.

Thứ hai, khảo sát tại 14 phường rối dân gian cho thấy sự mất cân đối lớn trong hoạt động: chỉ có khoảng 20% đến 25% số phường (như Đào Thục, Đồng Ngư, Hồng Phong với bình quân 22 nghệ nhân mỗi phường) duy trì được lịch diễn định kỳ đón khách tour, trong khi hơn 70% số phường còn lại chỉ biểu diễn theo mùa vụ lễ hội tháng 3 âm lịch.

Thứ ba, các sân khấu múa rối nước chuyên nghiệp tại đô thị đạt hiệu suất khai thác khán phòng rất cao từ 75% đến 90% mỗi suất diễn, với trên 80% đối tượng khán giả là khách quốc tế. Ngược lại, nguồn thu từ du lịch tại các làng nghề rối nước nông thôn chỉ chiếm dưới 5% tổng thu nhập của cư dân bản địa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh rõ sự đứt gãy giữa trung tâm tiêu thụ du lịch và không gian cội nguồn di sản. Dữ liệu khảo sát khi biểu diễn trên biểu đồ tương quan luồng khách chỉ ra rằng hơn 85% tổng lượt khách xem múa rối tập trung tại các nhà hát đô thị khép kín ở Hà Nội, trong khi các thủy đình làng quê chỉ đón nhận khoảng 15% lượng khách phân tán. Nguyên nhân xuất phát từ việc thiếu liên kết tour tuyến, dù hạ tầng giao thông kết nối liên vùng qua Quốc lộ 1A, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18 và mạng lưới đường thủy sông Hồng, sông Đuống tương đối hoàn chỉnh.

So sánh với các nghiên cứu lý thuyết sân khấu truyền thống, tác giả khẳng định việc hiện đại hóa sân khấu bằng bể tôn và hệ thống đèn chiếu sáng công nghiệp giúp đáp ứng thị hiếu của hơn 90% du khách đại trà, nhưng có nguy cơ làm mất đi không gian văn hóa thủy đình 2 tầng 8 mái linh thiêng. Do đó, việc bảo tồn quy trình sơn hom 3 lần, lót 7 lần trên lá quỳ kích thước 4cm x 3cm và giữ nguyên làn điệu Chèo cổ là điều kiện tiên quyết để tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho du lịch văn hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng và phục dựng không gian thủy đình truyền thống tại 14 làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Chính quyền địa phương cần đầu tư nguồn vốn cải tạo ao làng, lắp đặt hệ thống máy sào ngầm đạt chuẩn từ 2,5m đến 3m, phấn đấu trước năm 2015 có ít nhất 60% số phường rối dân gian đủ điều kiện đón tiếp các đoàn khách quốc tế.

Thứ hai, thiết kế các tuyến du lịch chuyên đề kết nối di sản văn hóa. Doanh nghiệp lữ hành cần phối hợp với cơ quan quản lý du lịch xây dựng 3 tuyến tour trọng điểm gắn kết phường rối Đồng Ngư với dân ca Quan họ Bắc Ninh, phường rối Hồng Phong với di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, đặt mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú của khách thêm 1,5 ngày trong giai đoạn 2013 - 2016.

Thứ ba, ban hành chính sách bảo tồn nguồn nhân lực và nghệ nhân làng nghề. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có cơ chế trợ cấp đặc thù, hỗ trợ tối thiểu 50% kinh phí đào tạo nghề cho thế hệ trẻ, tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ du lịch cho hơn 300 nghệ nhân dân gian trong vòng 24 tháng.

Thứ tư, thương mại hóa sản phẩm quà tặng và đa dạng hóa nguồn thu. Các ban quản lý nhà hát và phường rối cần phát triển các sản phẩm lưu niệm con rối gỗ thu nhỏ kích thước từ 15cm đến 20cm làm bằng gỗ sung, gỗ thừng mực, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu từ quà lưu niệm lên mức 25% trong tổng cơ cấu chi tiêu của khách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách du lịch tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ: Luận văn cung cấp căn cứ khoa học và số liệu thực tiễn để xây dựng quy hoạch bảo tồn 14 phường rối dân gian gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế địa phương.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển sản phẩm du lịch: Tài liệu cung cấp cơ sở xây dựng các tour du lịch văn hóa trải nghiệm, giúp tối ưu hóa hành trình tour và gia tăng biên lợi nhuận kinh doanh du lịch di sản thêm 20%.

Nhóm nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và giảng viên chuyên ngành du lịch: Đề tài là nguồn tư liệu học thuật giá trị về kỹ thuật tạo hình, điều khiển con rối và sự kết hợp giữa múa rối với nghệ thuật Chèo, Quan họ trong bối cảnh đương đại.

Nhóm nghệ nhân và ban chủ nhiệm các phường rối dân gian: Luận văn gợi mở cách thức tổ chức biểu diễn chuyên nghiệp, giúp các phường rối tiếp cận hiệu quả với thị trường du lịch để nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam ra đời từ thời kỳ nào?
Theo các tài liệu lịch sử và nghiên cứu văn hóa, múa rối nước ra đời từ thế kỷ 11 dưới triều đại nhà Lý, gắn liền với tên tuổi của Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072 - 1116) tại chùa Thầy, bắt nguồn từ các trò chơi sinh hoạt nông nghiệp lúa nước và phục vụ hội làng truyền thống.

Chất liệu chính để chế tác con rối nước là gì?
Con rối nước truyền thống được đục đẽo từ gỗ sung hoặc gỗ thừng mực do đặc tính nhẹ và chịu nước tốt. Quy trình sơn phủ đòi hỏi kỹ thuật hom 3 lần và lót 7 lần bằng sơn ta tự nhiên kết hợp dán lá quỳ kích thước 4cm x 3cm nhằm chống thấm nước và mối mọt tối đa.

Hiện nay vùng đồng bằng Bắc Bộ có bao nhiêu đơn vị múa rối nước hoạt động?
Toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ có 14 phường múa rối nước dân gian tập trung tại các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, cùng 4 phường rối cạn và 2 nhà hát biểu diễn chuyên nghiệp lớn đặt tại thủ đô Hà Nội.

Âm nhạc trong biểu diễn múa rối nước sử dụng những thể loại nào?
Múa rối nước sử dụng dàn nhạc Chèo truyền thống làm nền tảng với các nhạc cụ như trống, đàn bầu, đàn tam thập lục, sáo trúc. Riêng tại các phường rối Bắc Ninh như Đồng Ngư, nghệ thuật diễn xướng kết hợp chặt chẽ với những làn điệu dân ca Quan họ mượt mà.

Giải pháp nào giúp các phường rối dân gian làng quê thu hút khách quốc tế?
Các địa phương cần liên kết chặt chẽ với các hãng lữ hành để đưa phường rối vào lịch trình tour cố định, nâng cấp cơ sở vật chất thủy đình ao làng và xây dựng chương trình tương tác trực tiếp giúp du khách trải nghiệm điều khiển rối sào dài 2,5m, nâng doanh thu du lịch lên 20% đến 30%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh 6 thời kỳ lịch sử và các giá trị tạo hình, diễn xướng, kỹ thuật điều khiển độc đáo của nghệ thuật múa rối nước đồng bằng Bắc Bộ.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của 14 phường rối dân gian và 2 trung tâm biểu diễn chuyên nghiệp, chỉ rõ tiềm năng kinh tế du lịch to lớn chưa được khai thác triệt để.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm bảo tồn di sản, nâng cấp hạ tầng thủy đình và đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa.
  • Xây dựng mô hình liên kết ba bên giữa cơ quan quản lý, nghệ nhân làng nghề và doanh nghiệp lữ hành để tối ưu hóa chuỗi giá trị du lịch di sản.
  • Khẳng định múa rối nước là tài nguyên du lịch văn hóa độc bản cần được đầu tư bài bản để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Kế hoạch hành động bảo tồn và khai thác múa rối nước cần được triển khai theo lộ trình giai đoạn 2013 - 2020 nhằm hoàn thiện hạ tầng và chuẩn hóa dịch vụ tại các làng nghề. Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu hãy chung tay ứng dụng các giải pháp của luận văn để đưa nghệ thuật múa rối nước tỏa sáng bền vững trên bản đồ du lịch quốc tế.