Chương 1: sau khi học xong chương này người học phải đạt được những mục tiêu cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ, cụ thể dưới đây: - Về kiến thức: Người học cần hiểu rõ, nắm được bản chất các vấn đề sau: + Đối tượng, phương pháp nghiên cứu của Lịch sử tư tưởng quản lý; + Hệ thống các khái niệm, phạm trù cơ bản của Lịch sử tư tưởng quản lý; + Lô gic hình thành và phát triển của các tư tưởng quản lý. - Về kỹ năng: + Có kỹ năng trình bày lôgic hình thành và phát triển của các tư tưởng quản lý; + Có kỹ năng vận dụng những tri thức, tư tưởng quản lý vào thực tiễn. - Về thái độ: + Nhận thức được quản lý là một lĩnh vực có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, biết tôn trọng và tiếp thu các giá trị tư tưởng tích cực của mọi thời đại. + Bước đầu khái quát các mô hình, tư tưởng quản lý; biết vận dụng trong thực tiễn quản lý.
+ Nhận thức đúng đắn về nội dung và các mục tiêu của học phần để có thái độ tích cực học tập, rèn luyện, ôn tập để đạt được mục tiêu của học phần. Đối tượng của lịch sử tư tưởng quản lý 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Lao động của con người trong xã hội là hoạt động mang tính cộng đồng, trong hoạt động sinh sống cộng động nảy sinh các mối quan hệ cộng sinh cần có một chủ thể đảm nhiệm vai trò có tính dẫn dắt quan trọng hơn từ đó manh nha ý 8 tưởng cần có người quản lý.
Quản lý là một dạng hoạt động thực tiễn, xuất hiện sớm trong lịch sử loài người. Từ buổi bình minh của nhân loại, quản lý đã ra đời dù còn ở dạng sơ khai để quản lí lao động quản lý xuất hiện khi có sự hợp tác trong hoạt động xã hội của ít nhất hai người trở lên. Phát triển của xã hội loài người trong lịch sử nảy sinh tính cấp thiết phải có quản lí, trong phát triển con người cần lao động để sinh tồn, trong lao động nảy sinh các mối quan hệ trong lao động và cần có tổ chức và quản lí thực hiện nó đó chính là sự quản lí. Trong sự phát triển chung của xã hội bất kì một hình thức tổ chức nào cũng cần có sự định hướng và điều khiển mà hiểu ở cấp độ cao đó chính là quản lý.
Quản lý bắt nguồn từ chính lao động và tất cả các loại hình lao động đều có quản lý, xã hội càng phát triển về trình độ và quy mô sản xuất, về văn hóa, khoa học, kỹ thuật công nghệ, thì trình độ quản lý, tổ chức, điều hành và công nghệ quản lý cũng càng được nâng lên và phát triển không ngừng. Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố: sức lao động, tri thức, nguồn vốn, tài nguyên, năng lực quản lý trong thứ tự này năng lực quản lý được đánh là nhân tố then chốt, quan trọng. Theo quan điểm của C.Mác, “Tất cả mọi hoạt động lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần tới một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của các cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”1 Quản lý là một dạng hoạt động đa dạng, được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Về bản chất, có thể hiểu quản lý là quá trình làm việc với hoặc thông qua những người khác nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả nhất. Ở mỗi cấp, mỗi 1 (C.Ăngghen: Toàn tập, NXB CTQG, H, 1993, t. 9 dạng quản lý đều có những đặc điểm, nhiệm vụ và phương thức đặc thù. Nhưng nhìn chung, hoạt động quản lý luôn luôn thực thi các chức năng với những công cụ đặc trưng và phương pháp phù hợp.
Quản lý mang tính khó khăn, phức tạp, là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển tổ chức và xã hội, thịnh vượng hay suy thoái của một tổ chức, một quốc gia. Quản lý nói chung là hoạt động quan trọng đối với tổ chức, cá nhân để đạt được mục tiêu đề ra, nếu không có quản lý thì mục tiêu của tổ chức không đạt được. Nhìn chung có thể hiểu quản lí có thể hiểu ở nhiều góc độ khía cạnh khác nhau, đã tồn tại một số quan điểm về quản lí như: Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”. Ngoài ra có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý cho rằng: - Mary Parker Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác".
- Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức". - Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm". - Robert Kreitner: "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn".
- "Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các 10 nguồn lực của tổ chức"2 Qua các quan điểm trên có thể hiểu chung quản lý là: “Quản lý là một quá trình sử dụng các phương pháp, biện pháp, triết lý của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý một cách phù hợp với quy luật để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra”. Như vậy có thể thấy rằng quản lý là một trong những hoạt động khó khăn, phức tạp, là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, suy thoái hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, thậm chí là toàn cầu. Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại nếu buông lỏng hay quản lý tồi thì sẽ mở đường cho sự rối loạn, kìm hãm sự phát triển xã hội và tổ chức. Tư tưởng quản lý Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện, cuộc sống thực tế buộc con người phải gắn kết thành cộng đồng và để phát triển nó cần phải sự quản lý, xong ban đầu chỉ là sự quản lí mang tính đơn giản bản năng.
Trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội với trình độ nhận thức và văn hóa của con người ngày càng nâng cao và sự xuất hiện của sự phân công lao động bắt đầu từ đó có tư tưởng quản lý hình thành. Lịch sử phát triển của nhân loại đến nay để lại một di sản đồ sộ, phong phú các kinh nghiệm, các bài học tư tưởng phục vụ việc nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, một trong những di sản đó là hệ các tư tưởng quản lý được hình thành qua các giai đoạn lịch sử. Trong tư tưởng quản lý chứa đựng các quan niệm, khái niệm, quy luật, nguyên tắc về hoạt động quản lý được hình thành trong quá trình phát triển của xã hội phù hợp với mỗi giai đoạn phục vụ cho nhận thức thế giới quan và cho quản lý. Tư tưởng quản lý được hình thành như là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền thế giới quan và phương pháp luận nhất quán đại diện cho một ý chí, một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn.
2 Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH KTQD, Hà Nội 2001. 11 Các tư tưởng quản lý chỉ xuất hiện khi có sự phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Thực tế, tư tưởng quản lý phản ánh thực tiễn quản lý một cách rời rạc, thiếu hệ thống và chưa được sắp xếp một cách logic. Tư tưởng quản lý chính là những quan điểm về quản lý tồn tại một cách rời rạc, chưa thống nhất thành trường phái hệ thống chính tắc mà tư tưởng quản lý chỉ phản ánh thực tiễn quản lý ở một giai đoạn xã hội nhất định trong giai đoạn lịch sử.
Thực tiễn quản lý sinh động được phản ánh cô đọng trong đầu óc, tiềm thức của con người, được lưu giữ và truyền bá qua các thế hệ. Việc phản ánh thực tiễn quản lý cũng có nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào thực tiễn quản lý và trình độ nhận thức của con người trong mỗi thời kì lịch sử. Thực tiễn chính là toàn bộ những trạng thái vật chất và ý thức mang tính lịch sử gồm các nội dung khác nhau mà từ đó xuất phát từ thực tiễn con người sẽ nhận thức nó và hình thành các quan điểm, tư tưởng quản lý. Hoạt động nhận thức thực tiễn chính là nhằm mục đích là biến đổi các quy luật vận động và phát triển của thế giới quan và có thể khẳng định thực tiễn là khởi nguồn các quan điểm, ý niệm về các lĩnh vực nói chung cũng như tư tưởng quản lý.
Khi các tư tưởng quản lý phản ánh được thực tiễn quản lý một cách hệ thống, trọn vẹn và được sắp xếp một cách logic thì xuất hiện khái niệm học thuyết quản lý. Học thuyết quả về hệ quan điểm, ý niệm có tính hệ thống hơn so với tư tưởng. Học thuyết quản lý là các quan điểm về quản lý được hình thành và thiết lập một cách có hệ thống, phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội ở một trình độ cao.