chương 1 là chương kiến thức nền tảng với vấn đề cơ bản của tổ chức hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và nội dung liên quan đến văn hóa tâm linh tại đền Trần, nhằm mục đích giải thích, hỗ trợ nội dung rõ hơn các chương tiếp theo là chương 2, chương 3, cùng phần nội dung khác trong đề tài khóa luận nghiên cứu. 16 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN TRẦN XÃ TIẾN ĐỨC, HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH 2. Khái quát về tỉnh Thái Bình 2. Vị trí địa lý tự nhiên Thái bình là tỉnh thuộc ven biển và thuộc khu vực Đồng bằng Sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Vị trí địa lý: Nằm ở phía đông nam đồng bằng sông Hồng. Phía bắc giáp các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng, phía tây và tây nam giáp các tỉnh Nam Định, Hà Nam; phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Diện tích tự nhiên: 1.546,54 km và địa hình: Thái Bình là tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc dưới 1%, độ cao phổ biến từ 1 đến 2m so với mực nước biển, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Thái Bình được bao quanh bởi hệ thống sông và biển khép kín.
Đường bờ biển dài hơn 50 km, có 4 con sông lớn chảy qua tỉnh: sông Hóa dài 35,3 km ở phía bắc và đông bắc, sông Luộc (một phụ lưu của sông Hồng) ở phía bắc và tây bắc, với tổng chiều dài 53 km, và hạ lưu sông Hồng ở phía tây và nam., với tổng chiều dài 67 km. Sông Trà Lý (phụ lưu chính của sông Hồng) chảy qua miền trung của tỉnh từ từ tây sang đông, với tổng chiều dài khoảng 1000 mét. Đồng thời có 5 cửa biển lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Tài nguyên du lịch văn hóa 2.
Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể Hiện nay tại Thái Bình có một số di tích nổi tiếng như: Di tích cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: Một trong những di tích lịch sử tiêu biểu thời kỳ lịch sử này là đền Tiên La tại huyện Hưng Hà thờ Bát Nạn Đại tướng quân Vũ Thị Thục. Di tích về vua Lý Nam Đế và nhà nước Vạn Xuân: Đình Tử Các - miếu Đồn tại huyện Thái Thụy, miếu Hai Thôn tại huyệnVũ Thư… 17 Di tích nhà Đinh: Các di tích phản ánh về thời kỳ này tiêu biểu là đình Lạc Đạo tại thành phố Thái Bình, từ đường Bùi Quang Dũng tại huyện Vũ Thư… Di tích nhà Lý: chùa làng Riệc tại huyện Hưng Hà, chùa Keo tại huyện Vũ Thư, chùa Phúc Thắng tại huyện Vũ Thư… là những địa danh tiêu biểu còn lại từ thời Lý. Di tích thời nhà Trần: Các di tích lịch sử phản ánh về thời đại nhà Trần chiếm tỉ lệ lớn nhất ở Thái Bình, chủ yếu tập trung tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà. Tiêu biểu khu di tích là: khu lăng tẩm - đền thờ các vua Trần, lăng mộ, đền thờ Thái sư Trần Thủ Độ và Linh từ Trần Thị Dung… Di tích lịch sử của các danh nhân: Theo như thống kê của tỉnh Thái Bình có 111 vị đỗ Tiến sĩ và các di tích còn lại đến nay thờ tự 66 vị Tiến sĩ đại khoa tại từ đường, đền và miếu tại Thái Bình.
Di tích khảo cổ Thái Bình Thái Bình hiện nay còn khá nhiều di tích khảo cổ học chưa được nghiên cứu và khai quật. Tập trung phân bố nhiều ở vùng ven sông Luộc, sông Hồng, sông Hóa. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể Lễ hội dân gian Lễ hội truyền thống ở quê hương Thái Bình được xem là tiêu biểu về số lượng, đa dạng về loại hình, nghệ thuật. Hội làng Thái Bình có nội dung khá phong phú, lễ hội đặc sắc có đủ mọi loại hình (lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử, lễ hội làng nghề…) và ở loại hình nào cũng có thể tìm được những lễ hội hấp dẫn và lễ hội ở Thái Bình có bốn nội dung: tái hiện cuộc sống nông nghiệp, tôn vinh các anh hùng dân tộc, tái hiện phong tục, tập quán, tín ngưỡng, hội thi tài.
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Thái Bình Nghệ thuật chèo: Thái Bình nổi tiếng với ba vùng chèo là chèo Hà Xá tại huyện Hưng Hà, chèo Khuốc tại huyện Đông Hưng và chèo Sáo Đền t ại huyện Vũ Thư. Đây là những dòng chèo đặc trưng của địa phương. 18 Múa rối nước: Thái Bình Có 7 phường hội cổ truyền ở các làng Nguyễn, Tăng, Tuộc, Đống, Kỳ Hội, Bắc Lạng, Tây Trong, Tây Ngoài của huyện Đông Hưng; mà nay nổi tiếng hơn cả là làng Nguyên Xá. Văn học dân gian Văn học dân gian lưu truyền ở Thái Bình là một sản phẩm tinh thần của nhân dân trong quá trình lao động và sản xuất, sinh hoạt cộng đồng và đấu tranh với thiên nhiên cả thù trong giặc ngoài chống xâm lược.
Nó là trí tuệ được kết tinh vừa mang tính địa phương vừa mang tính phổ quát của một vùng đồng bằng đông dân cư châu thổ sông Hồng, rất đa dạng và phong phú bao gồm cả ca dao, tục ngữ, truyền thuyết. Các lễ hội tại tỉnh Thái Bình Trong đời sống cộng đồng lễ hội được coi là một trong những hiện tượng văn hóa tín ngưỡng và các lễ hội được mở ra để tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn và thể hiện lòng mong ước của mình đến các vị thần. Một số lễ hội nổi tiếng tại tỉnh Thái Bình. Thời gian STT Tên lễ hội Địa điểm ( Âm lịch) 1 Lễ hội chùa Keo Hội xuân: 4/1 xã Duy Nhất, huyện Vũ Hội thu: Thư, tỉnh Thái Bình 13,14,15/9 2 Lễ hội Đền Trần 13- 18/1 xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 3 Lễ hội Đình, đền, bến 10/2 Thôn A Sào, Quỳnh Phụ, tượng A Sào.
Thái Bình 4 Lễ hội Đền Tiên La. 17/3 Đoan Hùng, Hưng Hà, Thái Bình 5 Lễ hội đền Đồng Bằng. 20/8 An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình 6 Lễ hội làng Lộng Khê 23-25/3 An Khê, Quỳnh Phụ, Thái Bình 7 Lễ hội làng Quang Lang. 14/4 xã Thụy Vân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 8 Lễ hội Sáo Đền 20-27/3 xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 19 Các loại hình nghệ thuật đặc sắc: Hát chèo, múa rối nước, hát tuồng, tục kể vè và những trò chơi dân gian.
Văn hóa ẩm thực: Thái Bình có nhiều đặc sản nổi tiếng: Gỏi cá, bánh cáy Làng Nguyễn, bánh gai Đại Đồng, cá nướng Thái Xuyên, chè mét, hương đậu làng kênh, canh cá và bánh canh Quỳnh Côi đó là những đặc sản nổi tiếng tại Thái Bình mà ai từng đặt chân tới đây nhất định phải thử. Văn hóa lịch sử nhà Trần và những ảnh hƣởng tới vùng đất Thái Bình. Văn hóa lịch sử nhà Trần với lịch sử Việt Nam Theo Dân Tộc Đại Việt tóm gọn lịch sử nhà Trần: khi nhà Lý bắt đầu suy yếu, người đứng đầu của dòng họ Trần ở đây là Trần Cảnh (Trần Thái Tông) nhưng người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần là Trần Thủ Độ. Nhà Lý suy vi, quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ Độ.
Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng lúc 7 tuổi nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lúc 8 tuổi, năm1218 - 1277 thì thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225. Trong khoảng 175 năm cai trị đất nước vì nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thành công vào các năm 1258, 1285 và 1288, nhưng trong những năm sau này, kể từ đời vua Dụ Tông thì triều đại nhà Trần đã suy yếu đi vì nhiều lý do, chủ yếu là do sự nhu nhược và yếu kém của hệ thống quan lại nhà Trần. Cuối cùng vào năm 1400 Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần, chấm dứt 175 năm trị vì của dòng họ này và nhà Hồ lên ngôi. Nhà Trần tại mảnh đất Long Hưng tỉnh Thái Bình Quê hương, nơi phát tích- khởi nghiệp của nhà Trần đã được sử sách ghi chép nhưng có phần không rõ ràng, do đó vậy có nhiều ý kiến dị biệt khác nhau về sự tranh luận.
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, ít nhất các vấn đề này đã được nhà sử học, chuyên gia lĩnh vực nghiên cứu đề cập đến nhiều trong 4 cuộc hội nghị khoa học. Hội nghị về “Nhà Trần” tổ chức tại Hà 20 Nam Ninh vào năm đầu của thập kỷ 80, hội nghị “Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần” tổ chức ở Thái Bình năm 1986, hội nghị về” Thời Trần với Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà” năm 1995 và hội nghị “ Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định” năm 2000, đều được tổ chức tại Nam Định. Theo nhà sử học Lê Văn Lan trong bài Bàn về đất phát tích nhà Trần: “ theo một cách hiểu thông thường: đất phát tích của dòng họ là nơi mà tổ tiên trực tiếp của dòng họ ấy sinh sống. Thực tiễn đời sống cổ truyền của dân tộc cùng văn minh đất nước, từ lâu đã hình thành một tiêu chí dựa trên quy luật của mối liên quan giữa nơi sống và nơi chết của người xưa: “Sống ngâm da, chết ngâm xương,” để các đời sau con cháu có thể nhận ra nơi sống của đời trước ở chính chỗ chỉ còn lại dấu vết ký gửi thân xác của họ.
Đó là những bãi tha ma, nghĩa địa trở thành chỗ để xác định nơi đã sống của một cộng đồng dân cư, còn mộ tổ thì chính là một điểm chuẩn để có thể tìm kiếm đất phát tích của một dòng họ, một gia đình, là vì như vậy.27] Nhắc đến tài liệu chính sử cổ nhất nói về cội nguồn nhà Trần là Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê. Trong quyển V, mở đầu Kỷ nhà Trần, viết”.Có người tên Kinh đến hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường sinh ra Hấp, Hấp sinh Lý, Lý sinh ra Thừa đời đời làm nghề đánh cá. Vua là con thứ của Thừa, mẹ họ Lê, sinh ngày 16/6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 triều Lý” ( Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH, H. Theo đoạn trích này, Trần Kinh là ông tổ đời thứ 5 tính từ Trần Cảnh( Trần Kinh – Trần Hấp- Trần Lý – Trần Thừa – Trần Cảnh) đã đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường tức là vùng Mỹ Lộc, Nam Định ngày nay và bốn đời làm nghề đánh cá.