Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình" được thực hiện bởi sinh viên Phan Thị Thêu (ngành Văn hóa Du lịch, Khoa Quản lý Xã hội – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, năm 2022) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Quang Trung. Đề tài bắt nguồn từ thực tiễn phát triển du lịch tại tỉnh Thái Bình – địa phương thuộc vùng duyên hải Đông Bắc Bộ, nơi có mật độ di tích lịch sử văn hóa dày đặc nhưng hoạt động du lịch và công nghiệp nhìn chung vẫn đang trong quá trình định hình, hoàn thiện hạ tầng.

Huyện Hưng Hà (xưa là đất Long Hưng) được giới sử học và khảo cổ học khẳng định là đất phát tích, dựng nghiệp và nơi đặt tôn miếu, lăng mộ của các vị vua đầu triều Trần (1226–1400). Nhận thức rõ giá trị của quần thể di tích đền Trần tại xã Tiến Đức trong việc xây dựng thương hiệu điểm đến văn hóa tâm linh cấp tỉnh và cấp quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Thái Bình đã triển khai nhiều quy hoạch, dự án tu bổ. Khóa luận được triển khai nhằm phân tích toàn diện các giá trị lịch sử - văn hóa, đánh giá thực trạng khai thác du lịch tâm linh tại điểm đến, từ đó xác lập luận cứ cho các giải pháp quản lý và xúc tiến du lịch bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu và hệ thống hóa các giá trị du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
  2. Cung cấp luận cứ khoa học và thông tin cụ thể về giá trị lịch sử, tín ngưỡng phục vụ khách tham quan.
  3. Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch thông qua khai thác hợp lý các giá trị văn hóa tâm linh và bảo tồn di tích.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng nền tảng cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và công tác tổ chức du lịch tại quần thể di tích đền Trần Hưng Hà.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển hoạt động du lịch, nâng cao hiệu quả quảng bá và bảo tồn di tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh du lịch, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh cùng các giá trị văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng tại quần thể di tích đền Trần.
  • Phạm vi không gian: Quần thể di tích đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (có mở rộng so sánh với các di tích đền Trần tại Nam Định, Hải Dương, Hà Nam).
  • Nội dung nghiên cứu: Khai thác giá trị văn hóa tâm linh phục vụ phát triển du lịch tại di tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hệ thống khung lý thuyết của ngành du lịch học, văn hóa học và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước:

  • Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành:

    • Khái niệm du lịch, hoạt động du lịch, sản phẩm du lịch, khách du lịch: Trích xuất trực tiếp theo quy định tại Điều 3 Chương 1 Luật Du lịch năm 2017.
    • Khái niệm văn hóa và văn hóa du lịch: Dẫn chiếu định nghĩa văn hóa của UNESCO (Federico Mayor), khái niệm văn hóa vật thể/phi vật thể, cùng bài giảng môn Nghiệp vụ Văn hóa Du lịch của PGS. Trần Thúy Anh về mối quan hệ tương tác hai chiều giữa văn hóa và du lịch.
    • Khái niệm tâm linh và văn hóa tâm linh: Tiếp cận công trình "Tâm linh Việt Nam" của GS. Nguyễn Duy Hinh (xác định tâm linh là thể nghiệm của con người về cái Thiêng qua sống trải) và tác phẩm "Văn hóa tâm linh" của tác giả Nguyễn Đăng Duy (tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong đời sống thực tế và tín ngưỡng tôn giáo).
    • Phân định ranh giới: Tác giả thiết lập tiêu chí phân biệt giữa hoạt động tâm linh tín ngưỡng chính đáng và mê tín dị đoan, làm rõ cấu trúc không gian điểm đến du lịch tâm linh (chùa, nhà thờ, đền, đình, miếu, phủ/điện).
    • Đặc trưng du lịch tâm linh Việt Nam: Phân tích các yếu tố gắn liền với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng tổ tiên dòng họ, thờ Mẫu Tam Phủ và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
  • Khung pháp lý và quản lý di tích:

    • Quyết định số 1214/QĐBT ngày 30/10/1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Khu di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử Quốc gia Tam Đường.
    • Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Khu di tích Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần tại huyện Hưng Hà.
    • Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014 dành cho Lễ hội Đền Trần Thái Bình.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý các nguồn tài liệu thứ cấp, văn bản lịch sử chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược), giáo trình và công trình nghiên cứu chuyên ngành để xây dựng cơ sở lý luận.
    • Phương pháp điều tra điền dã: Thu thập dữ liệu thực tế tại thực địa xã Tiến Đức, ghi nhận thông tin từ Ban quản lý khu di tích và các nghệ nhân, bô lão địa phương.
    • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý số liệu quy mô kiến trúc, lượng khách, cơ cấu nhân sự; đối chiếu hoạt động du lịch đền Trần Thái Bình với các di tích Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Trần (Nam Định) và Đền Trần Thương/Nhượng (Hà Nam).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh

Chương 1 hệ thống hóa tổng quan tình hình nghiên cứu với các công trình tiêu biểu: nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Nguyên - Mông của Hà Văn Tấn và Đặng Thị Tâm; công trình "Trần miếu di sản và tín ngưỡng dân gian" (NXB Văn hóa Thông tin, 2006); các nghiên cứu địa phương như "Đất và người Thái Bình" (Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan), "Ngàn năm đất và người Thái Bình" (Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, 1990), cùng các luận văn chuyên khảo của Phạm Văn Duy, Trần Thị Dung.

Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm:

  • Du lịch văn hóa tâm linh: Loại hình du lịch văn hóa khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, củng cố đức tin, hướng thiện và giải tỏa căng thẳng tinh thần.
  • Điểm đến du lịch tâm linh: Nơi tập trung tài nguyên du lịch gắn với di tích tôn giáo (chùa thờ Phật, nhà thờ Thiên Chúa/Hồi giáo) và di tích tín ngưỡng (đền thờ Thần/Thánh/Nhân thần, đình thờ Thành hoàng làng, miếu thờ Hoàng tộc/tiểu thần, phủ/điện thờ Mẫu).
  • Mối tương tác giữa văn hóa và du lịch: Hoạt động du lịch tạo điều kiện quảng bá các giá trị bản địa nhưng nếu thiếu định hướng quản lý có thể dẫn tới nguy cơ thương mại hóa, biến dạng nghi lễ và xâm hại văn hóa truyền thống.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về địa bàn nghiên cứu qua các nội dung trọng tâm:

1. Khái quát tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình: Tỉnh có diện tích 1.546,54 km², địa hình đồng bằng ven biển bằng phẳng với độ dốc <1%, bao bọc bởi sông Hóa (35,3 km), sông Luộc (53 km), hạ lưu sông Hồng (67 km), sông Trà Lý và 5 cửa biển lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Tài nguyên văn hóa đa dạng với hệ thống di tích các thời kỳ (Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần), 66 vị Tiến sĩ đại khoa được thờ tự, nghệ thuật chèo (ba vùng chèo: Hà Xá, Khuốc, Sáo Đền), múa rối nước (7 phường hội cổ truyền, tiêu biểu là làng Nguyên Xá) và các lễ hội dân gian đặc sắc.

STT Tên lễ hội Thời gian (Âm lịch) Địa điểm
1 Lễ hội chùa Keo Hội xuân: 4/1; Hội thu: 13-15/9 Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư
2 Lễ hội Đền Trần 13 - 18/1 Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà
3 Lễ hội Đình, đền, bến tượng A Sào 10/2 Thôn A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ
4 Lễ hội Đền Tiên La 17/3 Xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà
5 Lễ hội đền Đồng Bằng 20/8 Xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ
6 Lễ hội làng Lộng Khê 23 - 25/3 Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ
7 Lễ hội làng Quang Lang 14/4 Xã Thụy Vân, huyện Thái Thụy
8 Lễ hội Sáo Đền 20 - 27/3 Xã Song An, huyện Vũ Thư

2. Vị thế phát tích Long Hưng và chứng cứ khảo cổ: Khóa luận làm rõ luận điểm của GS. Lê Văn Lan về công thức "Đất lăng mộ = Đất phát tích", khẳng định vùng Tam Đường (hương Tinh Cương, phủ Long Hưng xưa) là nơi khởi nghiệp và đặt mộ tổ họ Trần từ đời Trần Hấp, Trần Lý, Trần Thừa trước khi vương triều chính thức thành lập năm 1225.

Các cuộc khai quật khảo cổ học tại Tam Đường (năm 1968 tại Phần Mao; 1969; 1972; 1973 tại Phần Bia; 1979–1980 tại Cồn Nhãn và Phần Bia trên diện tích hơn 600 m²) đã phát hiện 296 hiện vật lớn cùng hàng ngàn mảnh gốm sứ, ngói bò nóc, ngói mũi hài gắn lá đề, đầu rồng đất nung và các hàng gạch in chữ nổi "Vĩnh Ninh Trường" có niên đại thời Trần - Lê.

3. Quy mô kiến trúc và tổ chức thờ tự: Quần thể di tích trải rộng trên diện tích hơn 32 ha với trục cảnh quan "Tiền Tam thai, hậu Thất tinh":

  • Tứ trụ Nghi môn (Nghinh môn): Dài 11m, cao 6,5m, kết cấu tam quan cuốn vòm, mái chồng diêm hai tầng.
  • Sân đền: Diện tích 550 m², bố trí hai giếng ngọc đối xứng.
  • Tòa Bái Đường (Đại Bái): Rộng 330 m², 7 gian, 2 tầng mái chồng diêm, lưu giữ chuông đồng nặng gần 300kg (đường kính 80cm, cao 1,1m).
  • Sân Chầu: Rộng 400 m², lát gạch, hai bên là hai tòa Giải vũ (Đông - Tây) mỗi tòa 5 gian bằng gỗ lim.
  • Tòa Đệ Nhị: Rộng 270 m², 5 gian chữ Đinh, đặt khám thờ và tượng vua Trần Thái Tông (chính giữa), Trần Thánh Tông (bên trái), Trần Nhân Tông (bên phải).
  • Tòa Hậu Cung: Rộng 90 m², nền cao hơn 1m, chính cung thờ linh vị cụ Trần Kinh, Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, tượng Thái tổ Trần Thừa; bên phải thờ tượng Thái sư Trần Thủ Độ, bên trái thờ tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
  • Các hạng mục bổ trợ: Thư viện Đền Trần (khánh thành 10/12/2009, lưu trữ 1.500 đầu sách), Ngũ Tiền Môn (khởi công 31/12/2009), đường trục thần đạo và khu lăng mộ ba ngôi vua đầu triều.

4. Thực trạng tổ chức lễ hội và sản phẩm du lịch: Lễ hội Đền Trần diễn ra thường niên từ 13 đến 18 tháng Giêng. Điểm nhấn là Lễ Khai ấn lúc 23h00 đêm 13/1, màn sử thi "Âm vang hào khí Đông A", biểu diễn chầu văn (8 huyện, thành phố tham gia với hơn 20 bài hát văn, ca trù), trò chơi dân gian (kéo co, cờ người, chọi gà, vật, thả diều).

Khóa luận phân tích chi tiết quy trình thực hành Tục thi cỗ cá truyền thống làng Thái Đường (Tam Đường):

  • Cỗ kép: 1 con cá trắm đen (≥3 kg), 4 con cá mè (≥1 kg). Cá được xát muối, treo ráo 2 tiếng, nhồi lá sung, bọc lá chuối, nẹp phên rọ và luộc chín trong thời gian đúng một tuần hương đen to. Bày trên gắng gỗ với hoa mẫu đơn, lá đinh lăng. Tầng dưới gồm 4 bát thịt lợn luộc thái phay hình chiếc lược đỡ 4 góc, 2 đĩa giò lụa, 2 đĩa giò pha, 1 đĩa chả chìa rán, 1 đĩa nem (4 quả), dưa hành, mọc miến, ninh chân giò và 1 đĩa xôi.
  • Cỗ đơn: Sử dụng 1 cá chép (≥3 kg) và 4 cá mè (≥1 kg), cơ cấu phụ trợ tương tự cỗ kép.

5. Đối chiếu với các di tích Đền Trần trong khu vực: Khóa luận so sánh hoạt động du lịch của Đền Trần Hưng Hà với Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương - thế mạnh cảnh quan danh thắng), Đền Trần Nam Định (thế mạnh trung tâm hành cung Thiên Trường và thương hiệu Lễ khai ấn lâu đời) và Đền Trần Thương/Nhượng (Hà Nam - không gian kho lương thời Trần).

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Trên cơ sở đánh giá thực trạng khai thác và định hướng quy hoạch của tỉnh, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Đề cao trách nhiệm quản lý khu di tích: Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Ban quản lý với chính quyền địa phương; kiểm soát chặt chẽ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, bài trừ hiện tượng trục lợi, mê tín dị đoan.
  2. Đa dạng hóa và đặc thù hóa sản phẩm du lịch: Khai thác sâu các giá trị phi vật thể đặc trưng (trình diễn cỗ cá, hát văn, chèo Hà Xá), xây dựng tuyến du lịch kết nối Đền Trần với Đền Tiên La, Đền Đồng Bằng, Chùa Keo.
  3. Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ cảnh quan, giữ gìn môi trường văn hóa du lịch văn minh.
  4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức lịch sử thời Trần, kỹ năng thuyết minh và văn hóa ứng xử du lịch cho đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm di tích.
  5. Đẩy mạnh truyền thông, quảng bá xúc tiến: Phân định nhiệm vụ giữa Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bình (xây dựng chiến lược thương hiệu, ấn phẩm quảng bá, xúc tiến liên vùng) và Ban Quản lý di tích (nâng cấp website, cung cấp tài liệu hướng dẫn trực tiếp, tổ chức thuyết minh chuyên nghiệp).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận mang lại các kết quả khảo cứu và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Hệ thống hóa luận cứ lịch sử - khảo cổ học: Tổng hợp toàn diện các tư liệu thư tịch cổ và số liệu khảo cổ thực địa (kết quả 296 hiện vật thu được từ đợt khai quật Cồn Nhãn - Phần Bia 1979–1980; dấu tích gạch "Vĩnh Ninh Trường"; dấu tích các lăng mộ Phần Trung, Phần Bụt, Phần Đa, Phần Cựu, Phần Mao), củng cố vững chắc cơ sở khẳng định Hưng Hà là đất phát tích và đặt tôn miếu của nhà Trần.
  • Tư liệu hóa chi tiết di sản kiến trúc và nghi lễ bản địa: Khóa luận ghi nhận chính xác các thông số kiến trúc (tổng diện tích 32 ha, Bái Đường 330 m², Đệ Nhị 270 m², Hậu Cung 90 m², thư viện 1.500 cuốn) và mô tả chi tiết, bài bản quy trình kỹ thuật chế biến, sắp đặt mâm cỗ cá Thái Đường (cỗ đơn, cỗ kép) – một nét văn hóa ẩm thực tâm linh độc đáo gắn với lịch sử nhà Trần.
  • Đánh giá khách quan thực trạng du lịch: Chỉ rõ những chuyển biến tích cực về lượng khách (đặc biệt sau khi đón nhận danh hiệu Di tích quốc gia đặc biệt năm 2014 và Di sản văn hóa phi vật thể năm 2014) cùng những bất cập còn tồn tại trong cơ sở hạ tầng phụ trợ, tính thời vụ của lễ hội và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Đóng góp giải pháp ứng dụng: Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính phân định rõ ràng giữa trách nhiệm quản lý nhà nước của Sở VHTT&DL tỉnh và trách nhiệm vận hành trực tiếp của Ban Quản lý di tích đền Trần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa chủ yếu tập trung vào không gian đền Trần tại xã Tiến Đức (huyện Hưng Hà); các dữ liệu về lượng khách và kinh tế du lịch còn mang tính chất thống kê hành chính, chưa đi sâu phân tích cơ cấu chi tiêu và mức độ hài lòng của du khách bằng các mô hình định lượng phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu liên kết tour, tuyến du lịch tâm linh chuyên đề thời Trần theo trục Thái Bình – Nam Định – Hải Dương – Quảng Ninh; khảo sát định lượng nhu cầu của du khách ngoại tỉnh để hoàn thiện chuỗi dịch vụ lưu trú, ẩm thực đặc thù cho vùng đất Hưng Hà.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Quản lý Văn hóa, Lịch sử, Việt Nam học khi tìm kiếm tư liệu về di sản thời Trần và loại hình du lịch tâm linh vùng Đồng bằng sông Hồng.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, thuyết minh viên tại các khu di tích lịch sử trong việc biên soạn đề cương thuyết minh, thiết kế chương trình du lịch văn hóa - lễ hội.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian quan tâm đến quy cách thực hành nghi lễ và tập tục ẩm thực cổ truyền (tiêu biểu là tục cỗ cá làng Tam Đường).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lịch sử và khảo cổ nào khẳng định Hưng Hà (Thái Bình) là đất phát tích của nhà Trần?
Sử sách cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí) ghi nhận mộ tổ họ Trần đặt tại hương Tinh Cương (thôn Tam Đường, xã Tiến Đức ngày nay) từ đời cụ Trần Hấp. Kết quả khảo cổ học (các đợt khai quật 1968, 1973, 1979–1980) đã phát hiện hệ thống mộ phần quy mô lớn, gạch in chữ "Vĩnh Ninh Trường", chân tảng hoa sen, đồ gốm men ngọc thời Trần và dấu tích kiến trúc hành cung, khẳng định đây là nơi đặt lăng mộ và tôn miếu của các vị vua đầu triều.

2. Quần thể di tích đền Trần Thái Bình được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào thời gian nào?
Di tích được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vào ngày 31/12/2014. Trước đó, năm 1990, di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử Quốc gia.

3. Không gian thờ tự bên trong Tòa Hậu Cung Đền Trần được bài trí như thế nào?
Chính giữa Hậu Cung thờ linh vị cụ Trần Kinh (Mục Tổ), Trần Hấp (Linh Tổ), Nguyên Tổ Trần Lý và tượng Thái Tổ Trần Thừa. Gian bên phải thờ tượng Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ; gian bên trái thờ tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.

4. Tục thi cỗ cá làng Thái Đường tại Lễ hội Đền Trần có quy chuẩn thực hiện đặc thù gì?
Cỗ cá kép gồm 1 cá trắm đen (≥3 kg) và 4 cá mè (≥1 kg). Cá phải giữ nguyên vảy và vây, nhồi lá sung, bọc lá chuối, nẹp phên rọ và luộc đúng thời gian tàn một tuần hương đen dài. Cá bày trên gắng gỗ với hoa mẫu đơn, rải lá đinh lăng; tầng dưới đặt 4 bát thịt lợn luộc thái phay hình chiếc lược, 2 đĩa giò lụa, 2 đĩa giò pha, 1 đĩa chả chìa, 1 đĩa nem, dưa hành, bát mọc miến, ninh chân giò và đĩa xôi.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thêu đã làm sáng tỏ giá trị lịch sử, văn hóa và khảo cổ học đặc biệt của quần thể di tích Đền Trần (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà) với tư cách là đất phát tích vương triều Trần. Công trình đã phản ánh chân thực hiện trạng tổ chức hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại địa phương, đồng thời ghi nhận chi tiết các di sản kiến trúc và thực hành lễ hội tiêu biểu. Các giải pháp do tác giả đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch, cung cấp cơ sở tư liệu hữu ích cho công tác quản lý và nghiên cứu chuyên ngành.