Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di sản Di sản theo nghĩa Hán Việt: “di” là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; “sản” là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [31, tr. Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật những gì thuộc về quá khứ, do các thế hệ trước tạo ra và để lại cho cuộc sống hiện tại, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tác phẩm văn học. Năm 1983 tại Hội nghị Di sản toàn quốc (Anh) đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”[38, tr. Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) định nghĩa: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [24, tr.
Điều 1, Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001(sửa đổi, bổ sung năm 2009) được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước CHXHCNVN” [25, tr. Giá trị của di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đưa ra 3 kiểu giá trị khi xem xét, đánh giá một sản phẩm vật chất, tinh thần của di sản. Đó là: - Giá trị lịch sử: sản phẩm của di sản văn hóa là vật chứng sinh động phản ánh lịch sử quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, của một quốc gia, dân tộc, một vùng đất. - Giá trị văn hóa: sản phẩm của di sản văn hóa là thông điệp của quá khứ phản ánh sự sáng tạo, nghệ thuật ứng xử, ý thức kỷ luật bản năng, sự khác biệt giữa các nhóm người, các dân tộc không ngừng vươn tới chân, thiện, mỹ.
- Giá trị khoa học: sản phẩm của di sản văn hóa là vật chứng kết tinh tri thức của con người trên các lĩnh vực, phản ánh sự hiểu biết, khám phá của con người về sự vận động của tự nhiên và xã hội; đồng thời phản ánh tài năng sáng tạo của con người. Quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại, phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận một sự quản lý nào đó. Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau. Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi.
Nếu hiểu theo cách hiểu của âm Hán Việt thì “quản” là lãnh đạo một việc, “lý” là trông nom, coi sóc. Các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay. Từ đó chuyển sang nghĩa là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt. 15 Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [10, tr.
Nhấn mạnh cho nội dung này ông viết “Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10, tr. Bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở lên phổ biến, nhưng chưa định nghĩa nào thống nhất. Từ những ý nghĩa chung của nhiều định nghĩa, có thể hiểu “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định”[18, tr.
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội. 16 Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp.
Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại, phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận một sự quản lý nào đó. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên: Khái niệm quản lý là một lĩnh vực đặc thù của quản lý nói chung. Nhìn chung, như ta đã khái quát ở trên, quản lý là một hoạt động nhằm bảo đảm sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng.
Chúng ta cũng nói thường nói đến quản lý với tư cách là một khoa học, trong đó quản lý: Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội (…) Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt. Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội [28, tr. Dựa trên các khái niệm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể tiếp cận với khái niệm quản lý như sau: Quản lý chính là việc các chủ thể quản lý dựa trên các chính sách của thể chế chính trị sau đó tiến hành tác động lên khách thể quản lý bằng việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ huy, tiến hành, kiểm soát nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra. Quản lý văn hóa Trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam, tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (chủ biên) cho rằng: Nhìn chung, chúng ta thường hiểu rằng, 17 quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [13, tr.
Nhà nước đại diện cho nhân dân xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cho hoạt động văn hóa. Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân ban hành Hiến pháp và các đạo luật liên quan trực tiếp tới văn hóa. Ví dụ như: Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Luật tôn giáo và tín ngưỡng, Pháp lệnh thư viện…; Chính phủ dựa trên các Luật của Quốc hội ban hành để xây dựng các Nghị định hướng dẫn Luật và các chỉ thị, nghị quyết, nghị định liên quan đến hoạt động văn hóa; VH,TT&DL ban hành các thông tư, quy chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho văn hóa phát triển. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thức cho rằng: Quản lý nhà nước về văn hóa là sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa [43, tr.
Có thể thấy rằng, Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý trên tất cả mọi mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận nói chung của quản lý và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, do những đặc thù của văn hóa, quản lý nhà nước cũng có những đặc điểm riêng quản lý riêng, cụ thể. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, với việc khuyến khích xã hội hóa văn hóa thì vai trò của Nhà nước lại càng không thể thiếu được, nhằm phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những mặt trái của thị trường, định hướng nền văn hoá được bảo vệ, gìn giữ, phát triển phù hợp mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội.
Quản lý nhà nước về văn hóa phải quán triệt vai trò của văn hóa, làm cho các nhân tố văn hóa gắn 18 kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện. Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.