Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế phát triển chung của ngành du lịch, nhu cầu tìm kiếm và trải nghiệm những điểm đến mới lạ của du khách ngày càng gia tăng khi các điểm du lịch truyền thống dần trở nên quen thuộc. Tỉnh Phú Yên thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ sở hữu vị trí địa lý thuận lợi khi nằm trên trục Quốc lộ 1A Bắc – Nam, cách thành phố Nha Trang 124 km, cách thành phố Quy Nhơn 95 km và kết nối với Tây Nguyên qua trục Đông – Tây (cách thị trấn Chư Sê, Gia Lai 182 km). Tỉnh có mạng lưới giao thông đa dạng gồm đường sắt Bắc – Nam, đường hàng không qua sân bay Tuy Hòa và đường thủy gắn với cảng Vũng Rô. Nguồn tài nguyên du lịch tại địa phương phong phú với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích cấp quốc gia như gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, núi Đá Bia, thành Hồ, bãi biển Long Thủy. Đồng thời, chính quyền tỉnh Phú Yên đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, tích cực xúc tiến quảng bá qua các sự kiện như Hội chợ Du lịch Quốc tế Expo 2009 và đăng cai tổ chức Năm Du lịch Quốc gia 2011.

Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, hoạt động khai thác tài nguyên du lịch tại Phú Yên trong giai đoạn khảo sát còn bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng:

  • Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại nhiều điểm đến chưa được đầu tư; các điểm tham quan như gành Đá Đĩa, bãi Môn, Vực Phun hoàn toàn thiếu khu vui chơi, trạm dừng chân nghỉ ngơi và nhà vệ sinh công cộng.
  • Các tuyến đường kết nối đến các tài nguyên trọng điểm như Vực Phun, gành Đá Đĩa, hải đăng Mũi Điện, bãi Môn còn khó khăn, hạn chế khả năng tiếp cận của phương tiện vận tải sức chứa lớn.
  • Cơ cấu sản phẩm du lịch đơn điệu, chủ yếu dựa vào nghỉ dưỡng biển, dẫn tới sự trùng lặp với các địa phương lân cận trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
  • Công tác khai thác chưa gắn liền với bảo vệ môi trường, dẫn đến tình trạng xả rác thải sinh hoạt bừa bãi tại các bãi biển Tuy Hòa, Long Thủy và suy giảm nguồn lợi thủy sản tại đầm Ô Loan.

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn hóa Du lịch được xác lập với tên gọi: "Thực trạng và giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên".

Mục đích nghiên cứu: Xác định thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Yên phục vụ mục đích phát triển du lịch.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ):

  1. Xác định cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch và tổng quan điều kiện phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên.
  2. Phân tích thực trạng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn tại tỉnh Phú Yên.
  3. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch của địa phương theo hướng bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên du lịch tại tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai nhóm tài nguyên chính:
    • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Cảnh quan địa hình; tài nguyên biển; tài nguyên sông, hồ, thác, nước khoáng; tài nguyên sinh vật.
    • Tài nguyên du lịch nhân văn: Di tích khảo cổ học; di tích lịch sử văn hóa; lễ hội truyền thống; làng nghề thủ công và công trình kinh tế.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát số liệu giai đoạn 2005 – 2009, mốc thời gian UBND tỉnh Phú Yên ban hành định hướng phát triển du lịch giai đoạn đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm và khung lý thuyết dựa trên các chuẩn mực học thuật và văn bản pháp lý chuyên ngành:

  • Khái niệm du lịch: Tiếp cận theo định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO), xác định du lịch là hành động du hành đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên không nhằm mục đích kiếm tiền sinh sống.
  • Khái niệm tài nguyên du lịch: Trích dẫn nguyên văn theo Khoản 4, Điều 4, Chương 1 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm du lịch bền vững: Sử dụng định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế (WTTC, 1996), đặt trọng tâm vào việc đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đảm bảo cân bằng 3 mục tiêu: bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về văn hóa – xã hội.
  • Khung phân loại tài nguyên du lịch: Khóa luận đối chiếu hệ thống phân loại của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1997 với 3 loại, 9 nhóm), mô hình của Ngô Tất Hổ (3 hệ thống, 10 loại, 95 hình) và kế thừa trực tiếp bảng phân loại của tác giả Bùi Thị Hải Yến (giáo trình Tài nguyên du lịch, NXB Giáo Dục, trang 37–38), phân chia thành tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, nước, sinh vật, cảnh quan di sản) và tài nguyên nhân văn (di tích vật thể, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội, làng nghề, văn hóa ẩm thực).
  • Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Khóa luận phân tích hai mô hình đối chiếu thực tế:
    • Mô hình Sầm Sơn (Thanh Hóa): Dẫn chứng giai đoạn tăng trưởng nhanh 1990 – 1994 (từ 106.168 lượt khách lên 192.000 lượt khách, tăng 19%) nhưng thiếu kiểm soát môi trường khiến bãi tắm ô nhiễm, di tích bị hàng quán lấn chiếm, dẫn đến việc du khách chuyển hướng sang Cửa Lò.
    • Mô hình Cửa Lò (Nghệ An): Khai thác trung bình 1 triệu lượt khách/năm, doanh thu đạt xấp xỉ 200 tỷ đồng thông qua việc áp dụng quy chế "năm không", cơ giới hóa vệ sinh bãi biển (đầu tư 50 xe gom rác, 1 máy cào sàng rác, 200 thùng rác công cộng), trang bị thùng rác tại 100% ki-ốt kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp tổng hợp – phân tích tài liệu: Thu thập, kế thừa các văn kiện, nghị quyết của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Phú Yên, đề án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2020, các công trình nghiên cứu địa chí của Nguyễn Thành Quang, Nguyễn Đình Chúc, Trần Huyền Ân, Nguyễn Thị Kim Thoa, kết hợp số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến đóng góp từ các nhà quản lý du lịch tại địa phương, chuyên gia ngành du lịch và cán bộ điều hành doanh nghiệp lữ hành nội tỉnh.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trạng tại các điểm tham quan, khu du lịch, di tích và cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê giai đoạn 2005 – 2009 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên cung cấp; số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/4/2009; số liệu quy hoạch kinh tế - xã hội địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tỉnh Phú Yên

Chương 1 làm rõ các thuộc tính cốt lõi của tài nguyên du lịch: tính phong phú đa dạng; giá trị hữu hình gắn với cảnh quan và giá trị vô hình gắn với thông tin quảng bá; tính sẵn có trong tự nhiên; tính mùa vụ phụ thuộc vào diễn biến thời tiết; tính cố định tại chỗ đòi hỏi du khách phải trực tiếp di chuyển tới điểm đến; cùng khả năng tái tạo nếu được quản lý khoa học. Về vai trò, tài nguyên du lịch được xác định là tiền đề vật chất hình thành sản phẩm du lịch, định hướng các loại hình du lịch chuyên đề và đóng vai trò cấu thành cốt lõi trong tổ chức lãnh thổ du lịch theo các cấp phân vị.

Phần tổng quan địa phương cung cấp bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên:

  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên 5.045 km², tọa độ địa lý 12°39'10" đến 13°45'20" vĩ độ Bắc và 108°39'45" đến 109°29'20" kinh độ Đông. Tỉnh có 1 thành phố (Tuy Hòa), 1 thị xã (Sông Cầu) và 7 huyện. Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, chuyển tiếp từ sườn đông dãy Trường Sơn Nam xuống dải đồng bằng hẹp ven biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 24,1°C – 26,6°C, độ ẩm 80 – 82%, lượng mưa trung bình 1.700 mm/năm (vùng núi Chư Mu, Đèo Cả đạt trên 2.000 mm/năm), phân thành mùa khô (tháng 1 đến tháng 8) và mùa mưa lũ (tháng 9 đến tháng 12). Hệ thống thủy văn gồm khoảng 50 con sông suối chính; lớn nhất là sông Ba (sông Đà Rằng) dài 360 km với đoạn qua tỉnh dài 90 km, sông Kỳ Lộ dài 120 km với đoạn qua tỉnh dài 76 km, cùng sông Bàn Thạch, sông Hinh.
  • Điều kiện nhân văn và kinh tế - xã hội: Dân số theo điều tra ngày 01/4/2009 là 861.993 người (thành thị chiếm 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5%), với gần 30 dân tộc anh em cư trú. Cơ sở hạ tầng công nghiệp ghi nhận 3 khu công nghiệp tập trung (Hòa Hiệp 1, An Phú 1, Đông Bắc Sông Cầu) có diện tích 282 ha, thu hút 70 dự án đăng ký với tổng vốn 719 tỷ đồng và 73 triệu USD (trong đó có 12 dự án FDI). Sản xuất nông nghiệp có diện tích gieo trồng cây lương thực 60 – 65 nghìn ha/năm, sản lượng 335 nghìn tấn (lúa chiếm 91% diện tích và 97% sản lượng); đàn gia súc gia cầm gồm 2.269 con bò, 187 nghìn con lợn và 1,92 triệu gia cầm. Địa phương duy trì các làng nghề truyền thống giải quyết việc làm cho hơn 6.500 lao động thuộc hơn 2.500 hộ gia đình, tiêu biểu như đan lát Vinh Ba, gốm Hòa Vinh, chổi đót Mỹ Thành, chiếu cói Phú Tân, nước mắm Gành Đỏ.

Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên

Chương này thực hiện kiểm kê chi tiết hiện trạng các nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh:

Nhóm tài nguyên Danh mục điểm tài nguyên cụ thể Đặc điểm và hiện trạng ghi nhận
Cảnh quan địa hình Gành Đá Đĩa (xã An Ninh Đông, Tuy An) Rộng ~50 m, dài >200 m; đá bazan dạng cột lục giác hoặc tròn do nham thạch núi lửa nứt nguội; xếp hạng cấp quốc gia ngày 23/01/1997.
Núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) Độ cao 706 m, khối đá đỉnh cao 76 m; gắn với thần Lingaparvata của người Chăm và sự kiện vua Lê Thánh Tông khắc chữ năm 1471.
Núi Chóp Chài (Nựu Sơn) Độ cao 391 m, cách Tuy Hòa 4 km; có di tích Hang Dơi (Trai Thủy) rộng 5 m.
Núi Nhạn Độ cao 64 m bên bờ sông Đà Rằng, thuộc Phường 1, thành phố Tuy Hòa.
Tài nguyên biển Bãi Bàng – Bãi Gốc (xã Hòa Tâm) Dải cát dài hơn 3 km từ Mũi Lớn đến núi Bãi Gốc.
Bãi biển Long Thủy (xã An Phú) Cách trung tâm Tuy Hòa 12 km về phía Bắc; bờ cát mịn, kết nối đảo Hòn Chùa, Hòn Than, Hòn Dứa.
Bãi biển Từ Nham (xã Xuân Thịnh) Cách Quốc lộ 1A 7 km; bờ cát cong hình trăng khuyết gắn với làng chài chân núi.
Vịnh Xuân Đài (TX Sông Cầu) Diện tích mặt nước khoảng 13.000 ha, cửa vịnh rộng 4,4 km, độ sâu 7 – 18 m, bờ vịnh dài 50 km.
Đầm Ô Loan (huyện Tuy An) Diện tích 1.570 ha, đầm nước lợ chân đèo Quán Cau; xếp hạng quốc gia ngày 27/9/1996.
Sông, thác, khoáng Vực Phun (thượng nguồn sông Bánh Lái) Thuộc xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa; vách đá dựng đứng giữa rừng nguyên sinh.
Hồ thủy điện Sông Hinh Diện tích mặt hồ 41 km²; nhà máy gồm 2 tuốc-bin công suất 70 MW, 6 cửa xả lũ.
Suối khoáng nóng Phú Sen Xã Hòa Định Tây, huyện Phú Hòa; nhiệt độ trên 70°C từ mũi khoan sâu 100 m; sản xuất nước đóng chai Pi Ta, Phú Sen.
Suối khoáng nóng Triêm Đức Xã Xuân Quang 2, huyện Đồng Xuân; nằm cạnh gành đá granite bờ bắc sông Kỳ Lộ.
Sinh vật Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai Diện tích hơn 22.000 ha (rừng tự nhiên chiếm 12.000 ha), hệ sinh thái chuyển tiếp Đông – Tây Trường Sơn.
Khu du lịch sinh thái Sơn Nguyên Xã Sơn Nguyên, huyện Sơn Hòa; có thác Hòa Nguyên cao trên 30 m.
Di tích khảo cổ Thành An Thổ (xã An Dân, Tuy An) Trung tâm hành chính phong kiến xây năm 1832 – 1836; nơi sinh Tổng Bí thư Trần Phú (01/5/1904); xếp hạng quốc gia ngày 22/8/2005.
Thành Hồ (thị trấn Phú Hòa) Đô thị quân sự Chăm thế kỷ VII; bờ thành Đông dài 785 m, Bắc dài 742 m, Nam dài 250 m, cao 3 – 5 m; xếp hạng quốc gia ngày 20/5/2005.
Di tích lịch sử Địa đạo Gò Thì Thùng (xã An Xuân) Chiều dài 1.948 m, hệ thống hầm hào đánh bại phản công mùa khô 1966; xếp hạng quốc gia ngày 03/2/2009.
Đường số 5 (tỉnh lộ 645) Dài hơn 40 km; địa bàn chiến đấu 7 ngày đêm chặn đánh Quân đoàn 2 ngụy tháo chạy tháng 3/1975; xếp hạng quốc gia ngày 18/6/1997.
Kiến trúc nghệ thuật Tháp Nhạn Kiến trúc Chăm thế kỷ 11; mặt bằng vuông cạnh 10 m, cao 23,5 m; xếp hạng quốc gia ngày 16/11/1988.
Chùa Từ Quang (chùa Đá Trắng) Khởi dựng năm 1797 thời vua Quang Toản; xây lại chánh điện năm 1988; xếp hạng quốc gia ngày 29/6/1996.
Lễ hội truyền thống Lễ hội sông nước Tam Giang Mùng 5 – 6 tháng Giêng tại cầu Tam Giang, phường Xuân Đài, TX Sông Cầu.
Lễ hội đầm Ô Loan Mùng 7 tháng Giêng tại thôn Phú Tân, xã An Cư; nghi lễ cầu ngư cúng cá Ông, đua thuyền rồng.
Hội đua ngựa Gò Thì Thùng Mùng 9 tháng Giêng tại xã An Xuân; thi tài giữa các kỵ sĩ nông dân địa phương.
Đêm thơ Nguyên tiêu Núi Nhạn Tổ chức định kỳ vào rằm tháng Giêng, duy trì liên tục gần 30 năm.
Công trình kinh tế Đập Đồng Cam (sông Đà Rằng) Khởi công 1924, hoàn thành 1932; lưu vực 13.200 km², tưới hơn 31.000 ha; kênh Nam dài 37 km, kênh Bắc dài 33,75 km.
Thủy điện Sông Hinh Xây dựng 1993 – 2001; dung tích 357 triệu m³, sản lượng bình quân 370 triệu kWh/năm.

Về thực trạng tổ chức khai thác, văn bản chỉ rõ mạng lưới tour tuyến đã hình thành 3 chương trình 1 ngày xuất phát từ Tuy Hòa:

  1. Tuyến 1: Tuy Hòa – núi Đá Bia – Đại Lãnh – Vũng Rô – bãi Môn.
  2. Tuyến 2: Tuy Hòa – KDL sinh thái Sao Việt – hòn Chùa – bãi Xép – đầm Ô Loan – thành An Thổ – gành Đá Dĩa.
  3. Tuyến 3: Tuy Hòa – Vực Phun – đập Đồng Cam – hồ thủy điện Sông Hinh – KDL sinh thái Sơn Nguyên – thành Hồ.

Khóa luận phân loại hai hình thức khai thác trên thực tế:

  • Hình thức khai thác "thô" (chiếm đa số): Điểm đến thiếu hạ tầng dịch vụ cơ bản. Du khách tắm biển Long Thủy phải nhờ nhà dân dội nước ngọt; đường vào gành Đá Dĩa và Mũi Điện quá hẹp, xe khách 45 chỗ không tiếp cận được; trạm đèn Mũi Điện chỉ đáp ứng chỗ nghỉ lưu trú tạm cho 5 – 10 người; các di tích Tháp Nhạn, Thành Hồ, An Thổ thiếu nhà trưng bày và thuyết minh viên; cảnh quan đầm Ô Loan bị xâm phạm bởi các lều quán tạm bợ và tình trạng khai thác thủy sản quá mức.
  • Hình thức khai thác có đầu tư cơ sở hạ tầng (chiếm tỷ lệ rất nhỏ): Resort Sao Việt (núi Thơm) quy mô 48 ha với 83 phòng biệt thự cao cấp, sử dụng khoáng nóng Phú Sen, hồ bơi 800 m²; Bãi Tràm Hideaway Resort (xã Xuân Cảnh, Sông Cầu) tiêu chuẩn 5 sao với 167 phòng; Golden Beach Resort (Công ty Cổ phần Thuận Thảo đầu tư tại bãi biển Tuy Hòa) đã vận hành giai đoạn 1 với hệ thống bungalow, bể sục massage; tuyến Quốc lộ 1D dài 13 km qua địa phận Sông Cầu đưa vào sử dụng từ năm 2002 kết nối Quy Nhơn – Sông Cầu.

Đánh giá tổng hợp cho thấy, tính đến tháng 5/2010, toàn tỉnh có 25 điểm tham quan trong tổng số 32 điểm tài nguyên được thống kê. Tài nguyên phân bố rải rác (Gò Thì Thùng cách Tuy Hòa 45 km không có điểm dừng phụ trợ; gành Đá Dĩa cách vịnh Xuân Đài 20 km và cách Mũi Điện 60 km), bãi biển dài nhưng hẹp về chiều sâu hạn chế tổ chức thể thao bãi biển.

Chương 3: Một số giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên

Căn cứ vào danh mục công trình và định hướng nghiên cứu trong văn bản, chương 3 tập trung vào các nhóm nội dung giải pháp chiến lược:

  • Xây dựng bảng dự toán và phân bổ kinh phí tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử và danh thắng trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
  • Định hình và chuẩn hóa các mô hình sản phẩm du lịch đặc trưng nhằm khắc phục tình trạng đơn điệu, trùng lặp sản phẩm nghỉ dưỡng biển; cụ thể là thiết kế khung mô hình sản phẩm "Amazing Phu Yen" và mô hình sản phẩm "Discover sea".
  • Giải pháp đầu tư đồng bộ mạng lưới giao thông tiếp cận và hạ tầng kỹ thuật tại các điểm tài nguyên trọng điểm (gành Đá Đĩa, Vực Phun, bãi Môn).
  • Nhóm giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch và quản lý điểm đến, học tập kinh nghiệm mô hình Cửa Lò trong việc cung ứng hạ tầng vệ sinh công cộng, kiểm soát chất thải tại bãi tắm và ngăn chặn đánh bắt thủy sản tận diệt tại đầm Ô Loan.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp chuỗi số liệu kinh tế phản ánh chính xác thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2005 – 2009:

Năm Doanh thu lữ hành (Triệu đồng) Tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh (Triệu đồng) Tỷ trọng doanh thu lữ hành (%)
2005 286 20.500 1,4%
2006 456 Số liệu tổng hợp theo báo cáo ngành –
2007 744 Số liệu tổng hợp theo báo cáo ngành –
2008 1.004 Số liệu tổng hợp theo báo cáo ngành –
2009 2.800 (2,8 tỷ) 141.000 (141 tỷ) 2,0%

Dữ liệu bảng biểu phản ánh doanh thu du lịch lữ hành tăng trưởng về mặt giá trị tuyệt đối qua các năm nhưng chiếm tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu nguồn thu toàn ngành (chỉ chiếm 1,4% năm 2005 và đạt 2,0% vào năm 2009). Về cơ cấu thị trường, năm 2009 toàn tỉnh đón 280.000 lượt khách du lịch, tuy nhiên lượng khách du lịch thuần túy chỉ ghi nhận 50.200 lượt. Những con số này chứng minh hiệu quả khai thác kinh tế từ tài nguyên du lịch của tỉnh còn ở mức rất thấp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Tác giả tự khẳng định đây là công trình nghiên cứu học thuật đầu tiên tiến hành đánh giá hệ thống, toàn diện về thực trạng khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Yên (sau các công trình nghiên cứu riêng lẻ về lịch sử, địa chí, ca dao của các học giả trước đó).
  • Thiết lập hồ sơ kiểm kê đồng bộ về thông số kỹ thuật, giá trị lịch sử và hiện trạng bảo tồn của 25 điểm tham quan du lịch trọng điểm của địa phương.
  • Đề xuất hai khung mô hình sản phẩm du lịch mang tính định danh cho địa phương ("Amazing Phu Yen" và "Discover sea") cùng dự toán kinh phí tôn tạo di tích đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi tài liệu và bối cảnh thực hiện:

  • Dữ liệu thực nghiệm kinh tế - du lịch dừng lại ở mốc năm 2009 và tháng 5/2010, phản ánh giai đoạn trước thềm Năm Du lịch Quốc gia 2011.
  • Nguồn số liệu tài chính chủ yếu khai thác từ báo cáo hành chính của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, chưa có điều tra chọn mẫu quy mô lớn về mức chi tiêu chi tiết và hành vi của du khách tại từng điểm đến.
  • Hướng mở tiếp theo của đề tài là việc đánh giá tác động thực tế của hạ tầng sau sự kiện Năm Du lịch Quốc gia 2011, nghiên cứu ngưỡng sức chứa du lịch tại các danh thắng dễ bị tổn hại như gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan và kiểm chứng tính khả thi thương mại của hai mô hình sản phẩm du lịch "Amazing Phu Yen" và "Discover sea".

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Du lịch và Kinh tế phát triển.

Nội dung đặc biệt có giá trị tham khảo bao gồm:

  • Phương pháp kiểm kê, phân loại tài nguyên du lịch cấp tỉnh kết hợp giữa khung lý thuyết của UNWTO và giáo trình Tài nguyên du lịch của Bùi Thị Hải Yến.
  • Hồ sơ dữ liệu chi tiết về niên đại, kích thước, quyết định công nhận xếp hạng cấp quốc gia của hệ thống di tích lịch sử, khảo cổ và danh thắng tại Phú Yên.
  • Quy trình thiết kế lịch trình 3 tour mẫu dã ngoại, sinh thái và văn hóa 1 ngày xuất phát từ thành phố Tuy Hòa có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác xây dựng sản phẩm của các doanh nghiệp lữ hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm danh thắng gành Đá Đĩa được công nhận di tích cấp quốc gia vào thời gian nào và có đặc điểm địa chất gì đặc biệt? Gành Đá Đĩa được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích thắng cảnh cấp Quốc gia vào ngày 23/01/1997. Về địa chất, đá tại đây là loại bazan hình thành do hoạt động núi lửa cách đây hàng triệu năm; khi nham thạch nóng chảy gặp nước biển đông cứng bất ngờ và chịu ứng lực rạn nứt tạo thành các cột đá hình lục giác hoặc hình tròn xếp khít liền nhau trên diện tích rộng khoảng 50 m, dài hơn 200 m.

2. Tỷ trọng doanh thu hoạt động lữ hành trong tổng doanh thu du lịch của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2005 – 2009 biến động như thế nào? Doanh thu lữ hành của tỉnh chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn: năm 2005 đạt 286 triệu đồng trên tổng số 20,5 tỷ đồng (chiếm 1,4%); đến năm 2009 tăng lên 2,8 tỷ đồng trên tổng số 141 tỷ đồng doanh thu toàn ngành du lịch (chiếm 2,0%).

3. Tác giả đã thiết kế những hành trình tour nội tỉnh cụ thể nào xuất phát từ thành phố Tuy Hòa? Khóa luận thiết kế chi tiết 3 chương trình tham quan 1 ngày bằng ô tô: Tuyến 1 đi hướng Nam (Tuy Hòa – núi Đá Bia – Đại Lãnh – Vũng Rô – bãi Môn); Tuyến 2 đi hướng Bắc (Tuy Hòa – KDL Sao Việt – hòn Chùa – bãi Xép – đầm Ô Loan – thành An Thổ – gành Đá Dĩa); Tuyến 3 đi hướng Tây (Tuy Hòa – Vực Phun – đập Đồng Cam – hồ thủy điện Sông Hinh – KDL Sơn Nguyên – thành Hồ).

4. Khóa luận chỉ ra những biểu hiện tiêu cực cụ thể nào của hình thức "khai thác thô" tài nguyên tại Phú Yên? Hình thức khai thác thô thể hiện qua việc thiếu trạm vệ sinh và chỗ chứa rác tại gành Đá Đĩa, Vực Phun, bãi Môn khiến du khách xả rác bừa bãi; bãi tắm Long Thủy chưa có nhà tắm nước ngọt công cộng khiến khách phải vào nhà dân; đường giao thông hẹp không đón được xe 45 chỗ; các di tích Tháp Nhạn, Thành Hồ, An Thổ thiếu nhà trưng bày hiện vật và thuyết minh viên; đầm Ô Loan xuất hiện hàng quán tự phát và tình trạng khai thác thủy sản tận diệt bằng kích điện, lưới ba màn.

5. Mục đích của việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm tại Sầm Sơn và Cửa Lò trong Chương 1 là gì? Nhằm rút ra bài học thực tiễn về phát triển du lịch bền vững. Mô hình Sầm Sơn cảnh báo nguy cơ suy giảm lượng khách khi môi trường tự nhiên và nhân văn bị quá tải, ô nhiễm; trong khi mô hình Cửa Lò cung cấp giải pháp quản lý hiệu quả thông qua quy chuẩn "năm không", cơ giới hóa thu gom rác và trang bị thùng rác đồng bộ nhằm bảo vệ môi trường biển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh chi tiết về tài nguyên du lịch địa phương giai đoạn 2005 – 2009. Nghiên cứu chỉ rõ sự tương phản giữa nguồn tài nguyên tự nhiên, nhân văn đa dạng với phương thức khai thác thô sơ, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và doanh thu lữ hành chiếm tỷ trọng thấp. Các đề xuất về tuyến điểm mẫu, dự toán tôn tạo di tích đến năm 2020 và định hình mô hình sản phẩm "Amazing Phu Yen", "Discover sea" là những đóng góp khoa học thiết thực cho công tác quản lý và định hướng phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Phú Yên.