CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý thuyết về du lịch: 1. Lịch sử phát triển của du lịch: Trong thời kỳ cổ đại đến thế kỷ thứ IV: Hoạt động du lịch đã bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mầm mống đầu tiên xuất hiện vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Ở các xã hội chiếm hữu nô lệ, nơi ngoại thương nằm trong tay nhà nước thì du lịch cộng vụ chính là loại hình du lịch phát triển nhất.
Tại các nhà nước cổ đại phương Đông, tiêu biểu là Ai Cập cổ đại, các Pharaon thường cử phái viên của mình đi công vụ, thậm chí là đi đến những vùng đất xa xôi ngoài phạm vi lãnh thổ. Bên cạnh đó, cũng tồn tại một loại hình du lịch khá phổ biến khác trong các tầng lớp thường dân đó là du lịch tôn giáo, ví dụ như vào các ngày lễ hội người dân Ai Cập sẽ đi đến Memphis để dự lễ. Còn ở phương Tây, đặc biệt là đế quốc La Mã cổ đại, bên cạnh du lịch công vụ thì các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch với mục đích văn hóa, giáo dục cũng phát triển rất mạnh mẽ. Một số học giả còn cho rằng những người La Mã cổ đại giàu có chính là những người đầu tiên đi du lịch đúng nghĩa vì họ thường di chuyển tới biệt thự của mình ở ngoại ô thành Rome vào mùa hè chỉ để nghỉ dưỡng, giải trí.
Từ thế kỷ thứ V đến đầu thế kỷ XVII: Vào thời kỳ đầu phong kiến du lịch không có biểu hiện gì quá đặc sắc, do sự cai trị của quân Mông ở châu Âu sau khi đế chế Tây La Mã sụp đổ, các yếu tố về kinh tế, xã hội cũng như giao thông không thuận lợi đã hạn chế sự phát triển của du lịch. Mãi đến thế kỷ thứ X, khi tôn giáo thực sự trở thành lẽ sống của con người, người ta tin rằng nơi duy nhất để có thể kết nối với các vị thánh chính là nơi thờ phụng, thánh tích như Santiago de Compostela, Rome hay Jerusalem. Lúc này, các cuộc hành hương được khuyến khích và bắt đầu diễn ra phổ biến ở khắp nơi trên thế giới và để cuộc hành trình dễ dàng hơn cho các tín đồ thì rất nhiều quán trọ nhỏ đã được mở lên dọc đường đi. Vào thời kỳ cuối của chế độ phong kiến, cùng với sự thay thế của phương thức sản xuất tư bản chính là bước đà tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch, đặc biệt là tại các quốc có nền kinh tế phát triển lúc bấy giờ như Anh, Pháp, Đức.
5 Từ những năm 40 thế kỷ XVII đến Chiến tranh thế giới lần thứ nhất: Đầu thế kỷ 17, người ta phát minh ra xe lửa và chỉ một thời gian ngắn sau mạng lưới đường sắt được hình thành khắp châu Âu và châu Mỹ. Tiếp đó, vào năm 1772 bắt đầu xuất hiện các tuyến tàu thủy đầu tiên phục vụ cho việc đi lại. Sang năm 1885, chiếc ô tô đầu tiên ra đời. Chính sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, trong đó có cuộc cách mạng giao thông đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế.
Cox & King được biết đến là công ty du lịch đầu tiên, thành lập vào năm 1758 và thuộc Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Anh nên chỉ phục vụ các chuyến đi của hoàng gia. Khi ấy, các quý tộc trẻ từ các nước Tây Âu và Bắc Âu thường xuyên thực hiện những chuyến đi mà họ gọi là Grand Tour: một chuyến đi vòng quanh châu Âu (thường bao gồm Pháp, Đức, Ý và Hy Lạp) với mục đích chính là tìm hiểu về lịch sử, nghệ thuật và di sản văn hóa. Gần 100 năm sau, vào tháng 6 năm 1845, Thomas Cook – ông tổ ngành kinh doanh lữ hành đã sáng lập ra Thomas Cook Travel Inc với mục đích giúp người Anh cải thiện chất lượng cuộc sống bằng việc đi du lịch. Ngay khi thành lập, công ty đã tổ chức tour du lịch đầu tiên bằng tàu lửa cho đoàn 570 người và bắt đầu tổ chức các tour quốc tế từ năm 1854, đến năm 1890 công ty của Thomas Cook gần như đã chiếm lĩnh thị trường du lịch thế giới.
Có thể nói Thomas Cook Travel Inc chính là điềm báo cho thời đại du lịch thật sự. Bước sang thế kỷ XIX, du lịch đã trở thành hiện tượng đại chúng và lặp đi, lặp lại đều đặn, cũng từ đó bắt đầu nảy sinh hàng loạt vấn đề về đảm bảo chỗ ăn, chỗ ngủ cho những người đi du lịch. Lúc này, chính thức xuất hiện các nghề mới tại các vùng du lịch như: kinh doanh nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn du lịch, … cùng với đó là sự ra đời của đội ngũ lao động phục vụ du lịch. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến nay: Những năm đầu thế kỷ XX, du lịch tiếp tục phát triển nhờ vào việc sản xuất hàng loạt xe buýt và ô tô.
Ngoài ra, những cải tiến trong vận tải hàng không cũng như tiến bộ trong luật lao động và tăng trưởng phúc lợi xã hội đã dẫn đến sự bùng nổ việc đi du lịch. Tuy nhiên, hai cuộc chiến tranh thế giới diễn ra đã làm hoạt động du lịch gặp nhiều trở ngại, quan hệ du lịch quốc tế những năm đầu sau chiến tranh phục hồi rất chậm, mãi cho đến những năm 50 mới đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của du lịch quốc tế. Nhưng thực chất vẫn phân chia thành du lịch ở các nước xã hội chủ nghĩa, 6 tư bản chủ nghĩa và cũng chưa có sự giao lưu giữa những thị trường trên.2 Trong những 1970 việc đi du lịch giảm dần, nguyên nhân chủ yếu là do cuộc khủng hoảng năng lượng. Trong những thập kỷ tiếp theo, cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng tăng của các công ty kinh doanh khách sạn, đại lý du lịch và hãng hàng không, các sản phẩm dịch vụ du lịch và các hoạt động giải trí mới ra đời đã thúc đẩy sự phát triển du lịch toàn cầu.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những động lực kinh tế lớn ở nhiều quốc gia, là một phần quan trọng của các chương trình nghị sự chính trị quốc tế. Với sự phát triển kinh tế, đời sống con người ngày càng nâng cao, cùng với đó là các chuyến bay giá rẻ và sự xuất hiện của những ứng dụng đặt chỗ, khách du lịch ngày nay có khả năng chi trả để đi du lịch dễ dàng hơn và họ hoàn toàn có thể tự thiết kế hành trình và trải nghiệm theo ý thích của mình. Khái niệm du lịch: Du lịch được xem là một hiện tượng kinh tế, xã hội vô cùng phức tạp và trong suốt quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày một phong phú hơn. Thế nên, dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội loài người nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất.
Theo từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary): Năm 1811, lần đầu tiên từ du lịch xuất hiện trên Từ điển tiếng Anh Oxford, “Du lịch là hoạt động kinh doanh liên quan đến việc cung cấp chỗ ở, dịch vụ và giải trí cho những người đến thăm một nơi với mục đích vui chơi.”4 Theo Tiến sĩ Walter Hunziker và Krapf (1959): “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời.” Theo Tổ chức Du lịch Thế Giới (2008): “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế kéo theo sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa 2 GS. Nguyễn Văn Đính và PGS. Trần Thị Minh Hòa đồng chủ biên (2009), “Giáo trình kinh tế du lịch”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, trang 8, 38, 39. 3 Europeana, “Travelling for pleasure: a brief history of tourism”, https://www.eu/en/blog/travelling-for-pleasure-a-brief-history-of-tourism, truy cập 31/05/2022.
4 Tourism (noun): the business activity connected with providing accommodation, services and entertainment for people who are visiting a place for pleasure. 7 điểm bên ngoài môi trường thông thường của họ vì mục đích cá nhân hoặc kinh doanh / nghề nghiệp.”5 Tại Việt Nam thuật ngữ du lịch có thể được giải thích theo ba góc độ: (i) Ngôn ngữ tiếng Việt, (ii) Pháp lý, (iii) Kinh tế Dưới góc độ ngôn ngữ tiếng Việt, Từ điển bách khoa Việt Nam tập 01 đã đưa ra định nghĩa du lịch như sau: “1. Một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật, v. Một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và lao động dịch vụ tại chỗ.”6 Dưới góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam 2017 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích hợp pháp khác.” Dưới góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.7 Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể hiểu thuật ngữ du lịch một cách chung nhất: Du lịch là một hiện tượng kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan đến chuyến đi 5 UNWTO, “Glossary of tourism terms”, https://www.org/glossary-tourism-terms, truy cập 02/05/2022.