Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2020 đã ghi nhận những bước tăng trưởng vượt bậc, liên tiếp đạt các giải thưởng quốc tế từ Tổ chức Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) như “Điểm đến hàng đầu châu Á” (2018, 2019), “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”, “Điểm đến Golf hàng đầu thế giới và châu Á”, “Điểm đến văn hóa hàng đầu châu Á” và “Điểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á” (2019). Tuy nhiên, sự bùng phát của đại dịch COVID-19 từ đầu năm 2020 đã khiến toàn bộ chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch bị đình trệ. Hoạt động đón khách quốc tế đóng băng, thị trường nội địa sụt giảm nghiêm trọng, kéo theo tình trạng doanh nghiệp du lịch phải thu hẹp quy mô, tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể, khiến hàng triệu lao động mất việc làm. Trong bối cảnh Việt Nam chính thức mở cửa lại hoạt động du lịch từ ngày 15/03/2022, việc nhìn nhận lại những điểm nghẽn cố hữu, đánh giá toàn diện thiệt hại và tái định hình chiến lược phát triển theo hướng bền vững là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá lại thực trạng hoạt động du lịch tại Việt Nam và những tác động của đại dịch COVID-19 đối với du lịch Việt Nam.
  2. Dự báo khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển một số xu hướng du lịch sau đại dịch COVID-19 tại Việt Nam.
  3. Định hướng và đề xuất một số biện pháp phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác lập như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch tại Việt Nam và các giải pháp phục hồi, phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh mới.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch và các tác động của đại dịch trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, kết hợp tham chiếu kinh nghiệm phát triển du lịch của Thái Lan và Singapore.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn trước và sau khi đại dịch COVID-19 bùng phát, trọng tâm từ năm 2017 đến năm 2021, có cập nhật số liệu mở cửa đến nửa đầu năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực học thuật quốc tế và quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam:

  • Khái niệm du lịch và khách du lịch: Tiếp cận định nghĩa từ điển tiếng Anh Oxford (1811), Walter Hunziker & Krapf (1959), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2008), Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Neil Leiper (2004) và Điều 3, Điều 10 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (phân định khách nội địa, khách quốc tế đến và khách ra nước ngoài).
  • Phát triển du lịch bền vững: Kế thừa định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC, 1996), Diễn đàn tiếng Đức về Môi trường và Phát triển (1999), UNWTO (2005, 2014), Luật Du lịch 2005 và Luật Du lịch 2017. Khung lý thuyết tập trung vào 03 trụ cột cốt lõi: môi trường (bảo tồn đa dạng sinh học và quy trình sinh thái), văn hóa - xã hội (tôn trọng tính chân thực của cộng đồng bản địa), và kinh tế (đảm bảo lợi ích kinh tế lâu dài, công bằng).
  • Mô hình phân tích chiến lược: Sử dụng ma trận SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) nhằm đề xuất các nhóm chiến lược kết hợp (SO, WO, ST, WT).
  • Khung đánh giá năng lực quốc tế: So sánh cấu trúc Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch (TTCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2007 (3 nhóm, 13 trụ cột), năm 2019 (4 nhóm, 14 trụ cột, 90 chỉ số thành phần) với Bộ chỉ số năng lực phát triển du lịch (TTDI) năm 2021 (5 nhóm, 17 trụ cột, 112 chỉ số thành phần).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa: Tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kinh tế du lịch và quản lý điểm đến.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thu thập, xử lý và so sánh chuỗi số liệu thứ cấp từ các báo cáo thường niên của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Tổng cục Thống kê, WEF, UNWTO, WTTC, các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết 08-NQ/TW, Luật Du lịch 2017, Quyết định 1671/QĐ-TTg, Quyết định 3720/QĐ-BVHTTDL, Thông báo 118/TB-VPCP) và các kỷ yếu hội thảo chuyên ngành du lịch giai đoạn 2021–2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý thuyết về du lịch và phát triển du lịch bền vững

Chương này hệ thống hóa tiến trình lịch sử du lịch thế giới qua 4 thời kỳ: từ cổ đại đến thế kỷ IV (du lịch công vụ, tôn giáo tại Ai Cập, La Mã); thế kỷ V đến đầu thế kỷ XVII (hành hương tôn giáo); những năm 40 thế kỷ XVII đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (đột phá giao thông đường sắt, ô tô, sự ra đời của công ty lữ hành Cox & King năm 1758 và Thomas Cook năm 1845); từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay (thời kỳ du lịch đại chúng và toàn cầu hóa).

Tác giả phân định rõ 04 lĩnh vực kinh doanh du lịch theo Luật Du lịch 2017: dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch và các dịch vụ liên quan khác (ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí). Chương này cũng làm rõ vai trò kinh tế (đóng góp GDP, phân phối lại thu nhập quốc dân, thu hút ngoại tệ) và vai trò xã hội (tạo việc làm, giảm áp lực đô thị hóa, bảo tồn di sản văn hóa) của du lịch. Đồng thời, tác giả thiết lập cơ sở lý luận về 03 trụ cột phát triển bền vững và giới thiệu phương pháp luận đánh giá của mô hình SWOT cùng các bộ chỉ số TTCI và TTDI từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Chương II: Thực trạng du lịch Việt Nam

Chương II tập trung mổ xẻ thực trạng du lịch Việt Nam qua hai giai đoạn tương phản:

Giai đoạn trước đại dịch COVID-19 (2017–2019): Du lịch Việt Nam tăng trưởng nhanh về số lượng. Khách quốc tế tăng từ 12,15 triệu lượt (2017) lên 18 triệu lượt (2019); khách nội địa tăng từ 73,2 triệu lượt lên 85 triệu lượt; tổng thu đạt đỉnh 755 nghìn tỷ đồng (đóng góp trực tiếp 9,2% GDP cả nước năm 2019). Ngành tạo ra 1,3 triệu việc làm trực tiếp (chiếm 2,5% lao động cả nước) và có 2.667 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 30.000 cơ sở lưu trú du lịch.

Năm Khách quốc tế (lượt) Khách nội địa (lượt) Tổng thu (nghìn tỷ VNĐ) Tỷ trọng đóng góp GDP (%) Thu từ khách quốc tế (%) Thu từ khách nội địa (%)
2017 12.151.000 73.200.000 541 7,90% 58,4% 41,6%
2018 15.791.000 80.000.000 637 8,93% 60,1% 39,9%
2019 18.000.000 85.000.000 755 9,20% 55,7% 44,3%

Tuy nhiên, chương này chỉ ra 04 điểm nghẽn nghiêm trọng:

  1. Sản phẩm đơn điệu và dịch vụ manh mún: Điển hình tại Cát Bà (Hải Phòng), tour tuyến nghèo nàn, ùn tắc giao thông và tình trạng nâng giá dịch vụ vào mùa cao điểm.
  2. Áp lực môi trường do tăng trưởng quá nóng: Điển hình tại Nam Phú Quốc với hơn 5 triệu lượt khách năm 2019; lượng rác thải phát sinh hàng trăm tấn mỗi ngày nhưng tỷ lệ thu gom chỉ đạt khoảng 60%, nước thải chưa xử lý đổ ra biển gây suy thoái rạn san hô và thảm cỏ biển trong Khu bảo tồn biển.
  3. Hạ tầng quá tải: Tại Khánh Hòa năm 2017 đón 5,5 triệu lượt khách, hạ tầng giao thông phải chịu tải hơn 3.000 phương tiện đường bộ mỗi ngày.
  4. Du lịch tự phát đe dọa an ninh quốc phòng: Hoạt động tổ chức tour trái phép ra đảo Bình Ba, Bình Hưng (thuộc căn cứ quân sự Cam Ranh).
  5. Chất lượng nhân lực thấp: Chỉ 45% lao động ngành du lịch qua đào tạo; nhu cầu bổ sung 40.000 lao động/năm trong khi các cơ sở đào tạo chỉ cung ứng được khoảng 15.000 sinh viên tốt nghiệp/năm.

Về thể chế, dù có Nghị quyết 08-NQ/TW và Luật Du lịch 2017, việc triển khai chính sách ưu đãi giá điện cho cơ sở lưu trú ngang bằng điện sản xuất, chính sách thuế đất du lịch vẫn chưa được hiện thực hóa; quy chế quản lý condotel và biệt thự du lịch theo Quyết định 3720/QĐ-BVHTTDL còn nhiều lúng túng.

Giai đoạn dịch bệnh bùng phát (2020–2021): Ngành du lịch chịu thiệt hại nặng nề qua 4 đợt dịch. Lượng khách quốc tế đóng băng sau Thông báo số 118/TB-VPCP ngày 21/03/2020.

Chỉ tiêu thống kê Năm 2019 (Trước dịch) Năm 2020 Năm 2021 Mức biến động 2021 so với 2019
Khách quốc tế (lượt) 18.000.000 3.800.000* ~157.300* Giảm sâu, ngưng trệ hoàn toàn
Khách nội địa (lượt) 85.000.000 56.000.000 40.000.000 Giảm hơn 50%
Tổng thu (nghìn tỷ VNĐ) 755 312 180 Giảm 76,16%
Đóng góp vào GDP (%) 9,20% 3,58% 1,97% Giảm 7,23 điểm phần trăm

(Ghi chú: Khóa luận ghi nhận tổng khách quốc tế cả hai năm 2020-2021 đạt khoảng 7,6 triệu lượt, phần lớn tập trung vào đầu năm 2020).

Doanh nghiệp lữ hành rơi vào khủng hoảng tài chính:

  • Năm 2020 có 338/2.519 doanh nghiệp lữ hành quốc tế nộp lại giấy phép, 90% doanh nghiệp đóng cửa.
  • Năm 2021, tỷ lệ doanh nghiệp lữ hành xin thu hồi giấy phép vượt 35%. Tại Hà Nội, 95% đại lý và doanh nghiệp lữ hành dừng hoạt động. Tại TP. Hồ Chí Minh, tính đến tháng 5/2021, trong số 1.049 doanh nghiệp lữ hành chỉ còn 52% hoạt động cầm chừng, 9,6% tạm ngưng và 35,9% ngừng hoạt động hoàn toàn.

Đánh giá theo các chỉ số quốc tế, Việt Nam xếp hạng 63/140 quốc gia về chỉ số TTCI năm 2019 (tăng 4 bậc so với năm 2017) và xếp hạng 52 theo Bộ chỉ số TTDI năm 2021 do WEF công bố, phản ánh tiềm năng đầu vào tốt nhưng điểm số về tính bền vững môi trường và hạ tầng du lịch vẫn ở mức thấp.

Chương III: Định hướng phục hồi và phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới

Chương này chỉ ra các xu hướng du lịch hậu COVID-19: du lịch nghỉ dưỡng biệt lập (Retreat), du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch sinh thái gắn với thiên nhiên và xu hướng chuyển đổi số trong trải nghiệm dịch vụ.

Từ việc phân tích bài học mở cửa của Thái Lan (mô hình Phuket Sandbox, quy trình kiểm soát dịch linh hoạt) và Singapore (hộ chiếu vaccine, số hóa dữ liệu điểm đến, chương trình kích cầu nội địa SingapoRediscovers), tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Định hướng ngắn hạn: Khôi phục thị trường nội địa làm đòn bẩy; thực hiện chính sách mở cửa quốc tế an toàn từng bước; triển khai các gói cứu trợ tài chính, giãn nợ, giảm lãi suất và cơ cấu lại nguồn nhân lực du lịch bị phân tán sau đại dịch.
  • Định hướng dài hạn: Hoàn thiện thể chế pháp lý (cụ thể hóa ưu đãi giá điện cho cơ sở lưu trú, chính sách thuế đất du lịch theo Nghị quyết 08-NQ/TW); quy hoạch kiểm soát sức chứa tại các điểm đến biển đảo; chuẩn hóa mô hình du lịch cộng đồng; nâng cao năng lực đào tạo nghề du lịch đạt chuẩn khu vực; đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua hệ sinh thái du lịch thông minh, ứng dụng Dashboard và nền tảng dữ liệu dùng chung.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa chuỗi số liệu thực chứng: Phản ánh biến động của du lịch Việt Nam giai đoạn 2017–2021 qua các chỉ tiêu về lượng khách, tổng thu, cơ cấu thị trường, tình trạng giải thể/đóng cửa của doanh nghiệp lữ hành tại các trung tâm du lịch lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thể chế và môi trường: Đánh giá tính thiếu đồng bộ giữa chủ trương tại Nghị quyết 08-NQ/TW với các chính sách kinh tế thực thi (chậm áp dụng giá điện sản xuất cho cơ sở lưu trú, thiếu cơ chế thuế đất đặc thù cho các dự án du lịch cảnh quan); nêu bật thực trạng quá tải hạ tầng và ô nhiễm môi trường tại Phú Quốc, Cát Bà, Khánh Hòa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phân kỳ: Phân định rõ các biện pháp cấp bách nhằm giải cứu dòng tiền doanh nghiệp trong ngắn hạn và các chiến lược tái cấu trúc nhân lực, chuyển đổi số, bảo vệ tài nguyên sinh thái trong dài hạn nhằm nâng cao vị thế của du lịch Việt Nam theo khung chỉ số TTDI của WEF.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp và các báo cáo ngành công bố đến giữa năm 2022; chưa thực hiện được các khảo sát định lượng sơ cấp trên mẫu doanh nghiệp lữ hành diện rộng về mức độ thiệt hại tài chính chi tiết; chuỗi dữ liệu phục hồi sau thời điểm mở cửa hoàn toàn (15/03/2022) chưa đủ dài để đo lường trọn vẹn chu kỳ phục hồi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành nghiên cứu định lượng về sự chuyển dịch trong hành vi và mức sẵn sàng chi trả của khách du lịch quốc tế sau đại dịch; đánh giá hiệu quả thực thi thực tế của các gói chính sách hỗ trợ tín dụng và thuế đối với doanh nghiệp du lịch giai đoạn 2022–2025; xây dựng bộ tiêu chí du lịch bền vững riêng cho từng phân khúc du lịch biển đảo tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị - Luật, Kinh tế phát triển; các chuyên viên nghiên cứu thị trường và quản trị điểm đến tại các Sở Du lịch địa phương.
  • Nội dung tham khảo hữu ích:
    • Chuỗi dữ liệu so sánh cơ cấu thị trường khách và tổng thu ngành du lịch giai đoạn 2017–2021.
    • Phân tích sự chuyển dịch phương pháp tính và cấu trúc từ Bộ chỉ số TTCI (2019) sang TTDI (2021) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
    • Phân tích thực tế các bất cập trong quản lý mô hình du lịch cộng đồng và sức chứa môi trường tại các khu du lịch trọng điểm.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đóng góp của du lịch vào GDP và tỷ trọng tổng thu giữa khách quốc tế - nội địa năm 2019 đạt bao nhiêu?
Năm 2019, tổng thu từ khách du lịch đạt 755 nghìn tỷ đồng, đóng góp trực tiếp 9,2% vào GDP cả nước. Trong đó, thu từ khách du lịch quốc tế đạt 421 nghìn tỷ đồng (chiếm 55,7%) và thu từ khách du lịch nội địa đạt 334 nghìn tỷ đồng (chiếm 44,3%).

2. Mức độ suy giảm doanh nghiệp lữ hành tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội trong đại dịch được ghi nhận ra sao?
Tính đến tháng 5/2021 tại TP. Hồ Chí Minh, trong 1.049 doanh nghiệp lữ hành chỉ có 52% hoạt động cầm chừng, 9,6% tạm ngừng và 35,9% không hoạt động. Tại Hà Nội, đến tháng 2/2021 có khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành đóng cửa hoặc dừng hoạt động; 191 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và 11 doanh nghiệp nội địa nộp lại giấy phép.

3. Khóa luận nêu thực trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái sinh thái tại Phú Quốc bằng những dẫn chứng nào?
Năm 2019, Nam Phú Quốc đón hơn 5 triệu lượt khách; lượng rác thải phát sinh hàng trăm tấn/ngày nhưng công suất thu gom chỉ đạt khoảng 60%. Lượng rác và nước thải chưa xử lý trôi ra biển đã gây ô nhiễm cục bộ các bãi tắm và làm suy giảm nghiêm trọng diện tích rạn san hô, thảm cỏ biển tại vùng lõi Khu Bảo tồn biển Phú Quốc.

4. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách tính chỉ số TTCI (2019) và TTDI (2021) của WEF là gì?
Chỉ số TTCI (2019) được tính bằng trung bình cộng điểm số của các nhóm (mỗi nhóm tính trung bình từ các chỉ số trụ cột). Ngược lại, chỉ số TTDI (2021) tính trực tiếp bằng trung bình cộng điểm của 17 chỉ số trụ cột (chia thành 5 nhóm chỉ mang ý nghĩa phân loại), nhằm giảm tính thiên vị giữa các nhóm chỉ tiêu.

5. Những bất cập chính sách nào đối với ngành du lịch trong Nghị quyết 08-NQ/TW được khóa luận chỉ rõ?
Đề tài chỉ rõ dù Nghị quyết số 08-NQ/TW đã định hướng hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư, tính giá điện cho cơ sở lưu trú ngang bằng giá điện sản xuất và ưu đãi thuế/tiền thuê đất du lịch, nhưng sau nhiều năm các bộ ngành vẫn chưa ban hành văn bản quy định chi tiết để triển khai vào thực tế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hoàng Thủy Tiên đã phản ánh toàn diện bức tranh ngành du lịch Việt Nam qua hai giai đoạn trước và trong đại dịch COVID-19 (2017–2021). Bằng việc tổng hợp số liệu thực chứng, phân tích mô hình SWOT và đối chiếu với Bộ chỉ số TTDI của WEF, công trình đã làm rõ các điểm nghẽn về hạ tầng, chất lượng nhân lực, ô nhiễm môi trường và độ trễ chính sách. Các nhóm giải pháp ngắn hạn và dài hạn được đề xuất dựa trên kinh nghiệm quốc tế cung cấp cơ sở tư liệu hữu ích cho việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch bền vững trong giai đoạn phục hồi.