mở đầu được tác giả lựa chọn nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về những vấn đề cơ bản của tổ chức hoạt động du lịch văn hóa và các nội dung liên quan đến sử dụng văn hóa trong phát triển du lịch tỉnh Hà Giang nhằm lý giải và hỗ trợ nội dung được rõ ràng hơn, các chương tiếp theo là chương 2, chương 3 và các nội dung khác liên quan đến công tác nghiên cứu. 14 Luan van Chương 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG PHONG TỤC TẬP QUÁN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI TỈNH HÀ GIANG 2.Khái quát về tỉnh Hà Giang Hà Giang là vùng núi phía đông bắc với địa hình chủ yếu là cao nguyên đá trập trùng. Phía đông tỉnh Hà Giang giáp với tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang. Ở phía bắc, Hà Giang giáp với các quận tự trị Choang và Miêu Văn Sơn của tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Hà Giang có diện tích tự nhiên 7.884,37 km2, nơi rộng nhất là 115 km về phía tây đông và 137 km theo hướng bắc nam. Mũi cực bắc của địa phận Hà Giang, cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú khoảng 3km về phía đông, vĩ độ 2310’00 ’. Điểm cực Tây cách Sín Mần khoảng 10km về phía Tây Nam, có kinh độ là 104024'05. Điểm cực đông cách huyện Mèo Vạc 16 km theo hướng đông nam, với kinh độ 105030’04”.Lịch sử hình thành Vào thời các Vua Hùng, Hà Giang đã là một trong 15 quần thể của dân tộc Lạc Việt.
Vào thời Thục Phán An Dương Vương, lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ tộc Tây Vu. Trong thời kỳ phong kiến phương bắc kéo dài hàng nghìn năm, vùng đất Hà Giang vẫn nằm trong phủ Tây Vu của quận Giao Chỉ. Từ năm 1075 (thời Lý), đất Hà Giang thuộc tỉnh Bình Nguyên lúc bấy giờ. Thời Trần, vùng Hà Giang và Tuyên Quang lúc bấy giờ được gọi là châu Tuyên Quang trên lộ Quốc Oai.
Năm 1397, đặt thành trấn Tuyên Quang. Hà Giang đã được nhắc tên trên tấm bia khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên) đúc trong lần trùng tu chùa vào đầu đời vua Lê Dụ Tông, năm thứ l Quý Dậu 1707. 15 Luan van Năm Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835) nhà Nguyễn bỏ phủ Bảo Lạc, chia thành 2 huyện: Vĩnh Điện (quanh Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Đế Đình, trên huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần nhỏ của huyện Quản Bạ ngày nay). phần Đồng Văn và Mèo Vạc ngày nay).
Lấy sông Lô làm ranh giới chia cắt tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên. Năm 1842, nhà Nguyễn chia Tuyên Quang thành: Hà Giang, Bắc Quang và Tuyên Quang. Hà Giang có một phủ là Tương Yên với huyện: Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện và một phần Đế Đình. Năm Thiệu Trị thứ (18), nhà vua lại phê chuẩn các châu ở các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, vẫn giữ chức quan Tư đồ.
Dưới thời Tự Đức, hệ thống quan lại ruộng đất bị bãi bỏ trong cả nước. Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp chiếm Hà Giang và thay đổi tình hình bằng việc thành lập các đạo quân sự. Năm 1893, trong cuộc cải tổ quân khu Hà Giang trở thành trung tâm của quân khu và thành lập Tuyên Quang là chi họ Đào thứ (quân khu 3). Ngày 17 tháng 9 năm 1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia quân khu 3 thành 3 tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang.
Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (không bao gồm tổng của Phú Loan và Bằng Hành), cộng với tổng của Phương Độ và Tương Yên. Ngày 28/4/1908 Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định hợp nhất hai tỉnh Bắc Quang và Hà Giang thành tỉnh lỵ Hà Giang. Binh đoàn 3 của Hà Giang được xác định rõ ràng và tương đối ổn định. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 01 thành phố (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Thành phố Hà Giang).
Ngày 23 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải thể khu Lào Hạ Yên, hợp nhất tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc. Đầu tháng 4 năm 1976, thành lập tỉnh Hà Tuyên trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. 16 Luan van Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9, khóa VIII, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang hợp thành 9 tỉnh và 1 thành phố, tổng cả gồm 10 đơn vị hành chính được đặt trụ sở tại thành phố Hà Giang.
Ngày 01 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 146 / NĐCP về việc thành lập Huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang. Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 35 / NQCP về việc Thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang vào ngày 27 tháng 9 năm 2010, 2.Vị trí địa lí Hà Giang được biết đến là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, nằm ở biên giới cực Bắc của Tổ quốc. Địa hình là núi cao và giữa núi cao. Là đường biên giới dài 274 km tiếp giáp với nước Cộng hòa nhân dân nước ta, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước ta.
Đến nay, Hà Giang có 01 thành phố, 10 huyện, 05 huyện, 13 thị xã và 177 xã. Đặc điểm địa hình - Địa hình ở Hà Giang hết sức đồ sộ với nhiều dãy núi cao và các cao nguyên đá. Nơi đây được ưu ái ban cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú về khí hậu, khoáng sản, địa mạo, đất đai. Ở Hà Giang khí hậu thổ nhưỡng và địa hình được chia thành ba vùng mỗi vùng có nét riêng biệt và có những tiềm năng riêng.
- Vùng núi đá phía Bắc Hà Giang gồm 4 huyện đó là Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Dân số ở khu vực này chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh Hà Giang. Khí hậu ôn đới rõ rệt, mùa hè khí hậu mát mẻ thuận lợi cho nhiều loại cây trồng ôn đới phát triển, mùa đông khí hậu khắc nghiệt giá rét. Địa hình thuận lợi cho việc chăn nuôi các loài gia súc lớn như bò, ngựa… - Vùng núi cao phía Tây Hà Giang gồm các huyện Hoàng Su Phì và Mín Xần.
Ở đây dân số chiếm khoảng 15,9 % dân số toàn tỉnh Hà Giang. Ở đây có cây lương thực chính là ngô và lúa nước trồng trên ruộng bậc thang. 17 Luan van Chăn nuôi chính vẫn là các loài gia súc lớn. - Vùng núi thấp khu vực tỉnh Hà Giang thuộc các huyện Bắc Quang và Vị Xuyên, Bắc Mê, Quang Bình và thị xã Hà Giang.
Mật độ dân số ở đây chiếm tới 49,8% dân số cả tỉnh và là vùng trọng điểm kinh tế của tỉnh Hà Giang. Ở đây khí hậu và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển các loại cây nhiệt đới, địa hình , khí hậu và thổ nhưỡng ở đây phù hợp để trồng các loại cây ăn quả… Khí hậu Khí hậu tỉnh Hà Giang chủ yếu là khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất khí hậu của vùng núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn. Khí hậu ở đây lạnh và mát mẻ hơn các tỉnh thuộc miền Đông Bắc và ấm áp hơn các tỉnh thuộc miền Tây Bắc. Tỉnh Hà Giang có nhiệt độ trung bình khoảng 21,06 C – 23,90C.
Mùa đông khí hậu giá buốt nhiệt độ trung bình có khi xuống thấp dưới 2C, mùa hè có khi nóng nực đỉnh điểm lên đến trên 40C. Chế độ mưa thay đổi theo mùa, trung bình quân lượng mưa hàng năm của tỉnh khoảng 2. Độ ẩm cao có khi lên tới 85%.Con người và xã hội Tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số năm 2019 có dân số là 854. Ở tỉnh Hà Giang có 22 dân tộc chung sống.
Hà Giang là một tỉnh vùng Đông Bắc với đa số dân sinh sống là những đồng bào dân tộc thiểu số. Hà Giang giáp với biên giới Việt – Trung có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Tổng dân số ở Hà Giang trên 730.000 người với 22 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Dân tộc ít người sống chủ yếu tại các vùng núi cao tỉnh Hà Giang như Pà Thẻn, Lô Lô, La Chí, Pu Péo, Bố Y, Phù Lá.
Người Hà Giang có truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp nhau thoát nghèo và làm giàu chính đáng, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Mỗi dân tộc ở Hà Giang đều có những nét văn hóa dân gian đặc sắc, mang đậm bản sắc văn hóa Đông Bắc. Sở hữu kho tàng văn hóa vật chất và phi vật 18 Luan van chất phong phú, quý giá, đặc biệt được thể hiện qua các chất liệu, công cụ, nhà cửa, trang phục, trang sức, âm nhạc, ca múa, trò chơi, vở kịch, trình diễn, lễ hội dân gian.Tài nguyên du lịch 2.Tài nguyên thiên nhiên Địa hình ở tỉnh Hà Giang chủ yếu là đồi núi cao với các cao nguyên đá đồ sộ. Thiên nhiên ban tặng cho Hà Giang vẻ ngoài rắn rỏi gai góc với những dãy núi trập trùng và cảnh hoang sơ hùng vĩ, đó cũng là môt trong những điểm thu hút lượng khách du lịch lớn đến tham quan và du lịch tại đây.
Nơi đây có rất nhiều nguồn tài nguyên đa dạng phong phú.Thổ nhưỡng Hà Giang có nguồn tài nguyên thổ nhưỡng đa dạng với 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám. Diện tích đất xám lớn là 585.418 ha, chiếm 74,28% diện tích tự nhiên. Là nhóm đất rất thích hợp cho việc trồng và phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu (lạc tiên, thảo quả,.Tài nguyên khoáng sản Căn cứ vào tài liệu cấu tạo địa chất, các nhà khoa học dự đoán Hà Giang là vùng có nhiều tiềm năng và giàu có về các loại khoáng sản như sắt, chì, thiếc, antimon, vàng, đá quý. Sắt ở dạng manhetit- hematit- sunfua được tìm thấy ở nhiều nơi đặc biệt ở khu vực Tùng Bá - Bắc Mê, khu vực này còn có mỏ chì và kẽm.
Ở khu vực phía đông nam, Vòm nâng sông Chảy đã phát hiện ra các mỏ và gai quặng mangan. Ở Bắc Quang có quặng đồng (Cu Ni) có nguồn gốc magma. Vùng Cao Bồ ở Việt Lâm có nhiều vân quặng vàng đa kim.