CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KHẢ NANG PHỤC HOI TRONG CÔNG VIỆC CUA GIÁO VIÊN TRUNG HOC PHO THONG 1. Tổng quan nghiên cứu về khả năng phục hồi Kha năng phục hỏi (resilience hoặc resiliency) là một thuật ngữ đã được sử dụng trong các nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, từ các ngành khoa học như xã hội học, tâm lý học, điều dưỡng, y học, kinh doanh và các lĩnh vực liên quan đến sinh thai (Windle, 2011). Trong Tâm lý học, khả năng phục hồi tâm lý (Windle, Markland & Woods) là thuật ngữ dùng dé mô tả chính xác bản chat của thuật ngữ phục hồi đang được nghiên cứu trong ngành khoa học này. Thuật ngữ này vốn đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học quan tâm và tìm hiểu từ những năm 50, 60 của thé ký 19 (Graber, Pichon & Carabine, 2015).
Ké từ đó cho đến nay khả năng phục hôi là một khía cạnh nghiên cứu được quan tâm (Garacia- Dia et al. Có thé kê đến một số xu hướng nghiên cứu về khả năng phục hồi tâm lý như sau: 1. Hướng nghiên cứu: khái niệm khả năng phục hồi Vào năm 1979, nghiên cứu về kha nang phục hồi trong tâm lý học đã bắt đầu manh nha xuất hiện từ nghiên cứu của Kobasa nim 1979. Về sau, trong nghiên cứu Hardiness and Health: A Prospective Study (Sự cứng rắn và sức khỏe: một nghiên cứu chuyên sâu), lần đầu tiên khái niệm khả năng phục hồi được mô tả rõ ràng dưới khía cạnh là một tính cách cứng rắn với các đặc điểm là cam kết, kiểm soát và thách thức nhằm đối phó và phát triển đưới áp lực, căng thăng.
Kobasa và cộng sự đã lựa chọn tâm lý học hiện sinh là bối cảnh đẻ tiền hành thực hành lâm sàng về sự cứng rắn của tính cách (Kobasa, Maddi & Kahn, 1982). Tính cách cứng rắn còn được cho là phát triển sớm trong cuộc sông cá nhân và ôn định theo thời gian, thay đổi trong những điều kiện nhất định (Kobasa & Maddi, 1982: Barton, 2007). Nhiều nghiên cứu sau này cúng cỗ cho quan điềm tinh cách cứng rắn có thé là một nguồn lực phục hồi mạnh mẽ, bảo vệ một số cá nhân chống lại những tác động xấu của căng thăng đối với sức khỏe và hiệu suất làm việc (Bartone et al., 1989: Contrada, 1989; Kobasa và Puccetti, 1983; Wiebe, 1991). Nghiên cứu 1Q and Ego — Resiliency: Conceptua and Empirical Connections and Separateness (IQ và Bản ngã — Khả năng phục hoi: Sự kết nối và sự tách biệt giữa khái niệm và thực nghiệm) của Block and Kremen (1996) là một nghiên cứu nôi bật về khả năng phục hồi ở giai đoạn mới hình thành, đã có một số kết quả nghiên cứu được ghi 7 nhận.
Khả năng phục hôi được tiếp cận như một đặc điểm tinh cách ôn định đặc trưng ở các cá nhân, được gọi là khả năng phục hồi bản ngã, gần với thuật ngữ sức mạnh bản ngã. Theo các tác giả, các cá nhân có cách thích ứng, cân bang và tái cân bằng khác nhau trước những thay đổi của cuộc sống. Khả năng phục hồi bản ngã cho thấy khả năng thay đôi và tái tạo trở lại của mức độ kiêm soát bản ngã đặc trưng ở cá nhân sau những căng thăng, nghịch cánh. Sau này, khái niệm khả năng phục hồi trong tâm lý học ngày càng được trình bày rõ nét hơn, cụ thé từ năm 1997 Emmy Werner và Smith công bố kết quả nghiên cứu về việc quan sát những đứa trẻ và cho thay chúng có đời sống tốt mặc dù phải chịu những bắt lợi từ cuộc sóng của chúng.
Từ kết quả đó, Werner và Smith chỉ ra rang ở những đứa trẻ này có “kha năng phục hồi” (dẫn theo Richardson, 2002). Kết quả nghiên cứu này von được trích xuất từ nghiên cứu Overcoming the odds: High risk children from birth to adulthood (Vượt qua nghịch cánh: Trẻ em có nguy co cao từ sơ sinh đến trưởng thành), nghiên cứu được thực hiện bởi Werner và cộng sự của cô là Smith. Đây là một nghiên cứu thiết kế theo chiều đọc, tức 1a những người tham gia nghiên cứu được yêu cau bao cáo những phát hiện về con cái của họ trong suốt 30 năm, thực chất Werner đã trién khai nghiên cứu từ 1955. Wemer đã quan sat một nhóm trẻ da chủng tộc, và nhóm trẻ nảy được xác định có nguy cơ cao do chịu ảnh hưởng của bồn loại yếu to môi trường chính.
Khoảng 200 trong số 700 trẻ em trong nhóm này gặp nguy cơ do căng thăng. nghèo đói, sự bất ôn hằng ngày và các vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng của cha me cũng ảnh hướng đến các em. Tuy nhiên, trong số 200 trẻ nay, Werner lại nhận thay có 72 trẻ trong số đó van phát trién tốt bat chấp các yếu tô rủi ro. Từ đó, Werner tiền hành phân loại những phẩm chất kiên cường giúp những đứa trẻ này đối mặt với những nghịch cảnh của môi trường sống (Wemer, 1982) và những phẩm chất kiến cường nay vẻ sau được Werner và Smith ghi nhận là khả năng phục hoi (Werner & Smith, 1992).
Thuật ngữ “Kha năng phục hôi” bắt đầu được sử dung pho biến thay thế cho các thuật ngữ như sự cứng rắn, sự déo dai của tỉnh than, sự bên bi và khả năng duy trì trong những nghiên cứu về sau (Underdahl và cộng sự, 2018). Qua các nghiên cứu, kha năng phục hồi không còn đơn thuần là sự đẻo dai trong đời sông tâm lý của cá nhân ma còn được đặc trưng bởi quá trình năng động trong ứng phó hiệu quả với các yếu tố gây căng thăng (Bonanno, 2004: Windle, 2011). Trong quá trình phát trién các nghiên cứu vẻ kha năng phục hồi, các nhà nghiên cứu tiếp cận khả năng phục hội như là một đặc điểm ôn định của cá nhân (Block & Kremen, 1996; Asen & Aken, 1999; Hart, Hofmann, Edelstein, & Keller, 1997; Robins, John, Caspi, Moffitt, & Stouthamer-Loeber, 1996, dan theo Lee et al. Ngoài ra, còn có cách tiếp cận kha năng phục hoi là một quá trình (Luthar et al., 2000; Roberts va Masten, 2004; Dyer & McGuinness, 1996).
Gan day, xuat hiện xu thé nghiên cứu mới la tiếp cận thuật ngữ khả năng phục hồi như một quá trình phát triển (Luthar et al., 2000; Yates, Egeland, & Sroufe, 2003). Và cuối cùng là tiếp cận khả năng phục hôi như kết qua (Varker & Devilly, 2012; Kalisch et al., 2017; Kalisch, Mũller, & Tiischer, 2015, dan theo Chmitorz ct al. Gan day, bằng phương pháp phân tích tông hợp nhằm tiến hành xem xét các đặc diém chung của khả năng phục hồi ở các cách tiếp can, thông qua kiềm chứng 27 thang do, trong đó có 21 thang đo phù hợp tiêu chi nghiên cứu đã được các tac gia lựa chọn. Wadi và cộng sự tiễn hành nghiên cứu Reframing Resilience Concept: Insights from a Meta- synthesis of 21 Resilience Scales (Định hình lại khái niệm về khả năng phục hài: Thông tin chỉ tiết từ tổng hợp meta của 21 thang do khả năng phục hổi) trong năm 2020.
Nghiên cứu đưa ra một mô hình khả năng phục hồi bằng cách khái niệm hóa các mối quan hệ của bon khía cạnh mới về khả năng phục hoi: sự kiềm soát, sự tháo vat, sự phát triển và sự tham gia, các khía cạnh được xem xét trong hai phạm vi liên tục là trạng thái (hiện tại và tương lai) và điều kiện (bên trong và bên ngoài). Dựa trên mô hình này, khả năng phục hỏi là sự kết hợp của các đặc điểm (cấu trúc độc quyền và chung), quá trình (trạng thái và điều kiện) và kết quả (bốn khía cạnh). Theo các tác giả, đầy được xem là một khuôn khỏ lý thuyết chung về khả năng phục hồi vì nó kết hợp ba quan điểm chính trong nghiên cứu khả năng phục hồi (đặc điểm, quá trình va kết quả) thành một khái niệm chung về khả năng phục hồi. Trong nghiên cứu, các tác giả lưu ý đây là một mô hình đây hứa hẹn có thẻ được sử dụng cho các ứng dụng thực tế khác nhau và cần đây mạnh các nghiên cứu sử dụng mô hình trong những khía cạnh nghiên cứu khác của khả năng phục hỏi cũng như ở những nhóm khách thê đa dạng (Majed et al.
Trong những năm trở lại đây, khả năng phục hồi ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu trên thé giới quan tâm hơn ở bình điện nghiên cứu thực tiễn. Bởi lẽ, thé ky XXI mở ra, con người ngày càng phải đối mặt nhiều thách thức hơn do tốc độ cuộc sông ngày 9 càng tăng (Kobasa et al. Đặc biệt trong giai đoạn đại dịch COVID - 19, kha năng phục hỏi là một van đề được quan tâm hơn bao giờ hết. Đã có những nghiên cứu được triển khai trước, trong và sau đại dịch COVID-19.
Trước đại dịch, người ta tập trung nhiều vào việc tìm hiệu cấu trúc, ban chất của khả năng phục hồi: Trong nghiên cứu Principle 4 — Foster complex adaptive systems thinking (Nguyên tắc 4: Thúc day hệ thong thích ứng phức tap), Bohensky và cộng sự (2017) tập trung vào bay nguyên tắc cốt lõi của khả năng phục hồi: quản lý kết nôi; quản lý các biến và phản hồi chậm; thúc day tư duy hệ thông thích ứng phức tap; khuyến khích học tap; mở rộng sự tham gia; và thúc đây quan trị đa trung tâm. Mỗi nguyên tắc déu được các tác giả đánh giá thông qua minh chứng. Bohensky vả các cộng sự đưa ra những thảo luận về ứng dụng thực tế của và phác thao các nhu cau nghiên cứu trong tương lai của khả năng phục hồi (Bohensky eLal. Trong một nghiên cứu khác của Simon va cộng sự (2018) là What factors promote student resilience on a level I distance learning module? (Những yếu tổ nào thúc đây khả năng phục hồi của sinh viên trong mô ~ dun từ xa cap 1) đã điều tra khả năng phục hôi của các sinh viên đang thực hiện chương trình dao tao từ xa cap | của Đại học Mở Vương Quốc Anh.
Bằng phương pháp phỏng van bán cau trúc, các tác giả ghi nhận trong môi trường giáo dục trực tuyến có nhiều thách thức đối với việc quan lý nghiên cứu của nội bộ, sinh viên thừa nhận các yếu tô bên bi như phản hồi của giảng viên, động lực và sự tự tin, hỗ trợ như gia sư, sinh viên, bạn bè, gia đình, v. giúp họ thích ứng với những thách thức và thành công trong việc học tập. (Simon et al. Trong thời kỳ đại địch, kha năng phục hồi được xem xét như một yếu tổ cần thiết trong ứng phó dịch bệnh: Có thé kẻ đến nghiên cứu của Kaye và các cộng sự trong năm 2021.
Trong bối cảnh dịch bệnh, nghiên cứu Resilience in the age of COVID-19 (Kha năng phục hồi trong thời đại dịch covid — 19) được triên khai nhằm xem xét khả năng phục hồi trong bối cảnh dich bệnh.