Luận án xây dựng và kết quả thử nghiệm gói dịch vụ y tế cơ bản trong điều trị quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã huyện sóc sơn hà nội 2017 2018

Tài liệu nghiên cứu Luận án xây dựng và kết quả thử nghiệm gói dịch vụ y tế cơ bản trong điều trị quản lý tăng huyết áp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Y tế công cộng

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

135
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm trong luận án

1.2. Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam

1.3. Chính sách dự phòng, điều trị và quản lý BKLN tại Việt Nam

1.4. Mô hình điều trị, quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến CSSKBĐ

1.5. Điều trị, quản lý bệnh THA, ĐTĐ tại tuyến CSSKBĐ trên thế giới

1.6. Quản lý và điều trị bệnh THA, ĐTĐ tại tuyến xã của Việt Nam

1.7. Xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản

1.8. Xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản trên thế giới

1.9. Gói dịch vụ y tế cơ bản tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa bàn nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu đối với mục tiêu 1

3.2. Kết quả nghiên cứu đối với mục tiêu 2

3.3. Kết quả nghiên cứu đối với mục tiêu 3

3.4. Sự thay đổi về cung ứng dịch vụ quản lý điều trị THA, ĐTĐ

3.5. Sự thay đổi về tính sẵn có của thuốc điều trị THA, ĐTĐ

3.6. Sự thay đổi về kiến thức, thực hành của bác sĩ/y sĩ

3.7. Sự thay đổi về quyền lợi được hưởng của người dân

3.8. Các điều kiện cần thiết để cung ứng gói dịch vụ y tế cơ bản

3.9. Nghiên cứu dự báo tác động chi phí

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xây dựng Danh mục dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã

4.2. Thí điểm triển khai các hoạt động can thiệp để đảm bảo cung ứng các dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã

4.3. Thực trạng cung ứng DVKT và thuốc trước thời điểm can thiệp

4.4. Sự thay đổi về năng lực cung ứng dịch vụ điều trị và quản lý THA, ĐTĐ của TYTX sau can thiệp

4.5. Sự thay đổi về quyền lợi được hưởng của người dân

4.6. Sự thay đổi về kiến thức và thực hành của y/bác sĩ tại TYTX

4.7. Các điều kiện cần thiết để đảm bảo TYTX cung ứng được Danh mục dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ

4.8. Ước tính chi phí cung ứng Danh mục dịch vụ cơ bàn trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã và tác động ngân sách

4.9. Chi phí cung ứng Danh mục dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã

4.10. Tác động ngân sách của Danh mục dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã

4.11. Những bất cập của chính sách ảnh hưởng đến việc triển khai Danh mục dịch vụ cơ bản trong điều trị và quản lý THA, ĐTĐ tại tuyến xã

4.12. Hạn chế nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về gói dịch vụ y tế cơ bản

Gói dịch vụ y tế cơ bản (DVYTCB) được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, đặc biệt là trong quản lý các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ). Tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội, gói dịch vụ này được thử nghiệm từ năm 2017 đến 2018, với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu. Theo Bộ Y tế, gói dịch vụ này bao gồm các dịch vụ thiết yếu nhằm đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận được dịch vụ y tế cần thiết. Việc triển khai gói dịch vụ này không chỉ giúp giảm gánh nặng bệnh tật mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc phòng ngừa và quản lý bệnh tật.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng và đánh giá hiệu quả của gói dịch vụ y tế cơ bản trong việc quản lý THAĐTĐ tại các trạm y tế xã. Nghiên cứu này nhằm xác định các điều kiện cần thiết để cung ứng dịch vụ y tế hiệu quả, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong việc điều chỉnh và hoàn thiện các chương trình y tế tại địa phương.

II. Kết quả thử nghiệm gói dịch vụ y tế cơ bản

Kết quả thử nghiệm cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong việc quản lý THAĐTĐ tại huyện Sóc Sơn. Sự thay đổi về cung ứng dịch vụ y tế đã được ghi nhận, với tỷ lệ bệnh nhân được quản lý và điều trị tăng lên đáng kể. Theo số liệu thu thập, tỷ lệ bệnh nhân được phát hiện và quản lý tại trạm y tế xã đã tăng từ 30% lên 70% sau khi triển khai gói dịch vụ. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng một hệ thống quản lý bệnh tật hiệu quả tại tuyến y tế cơ sở. Ngoài ra, sự thay đổi về kiến thức và thực hành của bác sĩ/y sĩ cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

2.1. Sự thay đổi về cung ứng dịch vụ

Sự thay đổi về cung ứng dịch vụ quản lý điều trị THAĐTĐ đã được ghi nhận qua các chỉ số cụ thể. Trước khi triển khai gói dịch vụ, nhiều bệnh nhân không được theo dõi thường xuyên, dẫn đến tình trạng bệnh trở nặng. Sau khi áp dụng gói dịch vụ, các trạm y tế đã có khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên tục, từ đó giúp người bệnh duy trì tình trạng sức khỏe ổn định. Việc cung cấp thuốc điều trị cũng trở nên dễ dàng hơn, với sự hỗ trợ từ các chương trình y tế quốc gia.

III. Đánh giá tác động của gói dịch vụ y tế cơ bản

Đánh giá tác động của gói dịch vụ y tế cơ bản cho thấy những lợi ích rõ rệt trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc quản lý THAĐTĐ tại trạm y tế xã không chỉ giúp giảm chi phí khám chữa bệnh cho người dân mà còn giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Sự thay đổi về quyền lợi được hưởng của người dân cũng được ghi nhận, khi họ có quyền tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng hơn. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững trong lĩnh vực y tế.

3.1. Tác động đến cộng đồng

Tác động của gói dịch vụ y tế cơ bản đến cộng đồng là rất lớn. Người dân tại huyện Sóc Sơn đã có cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế một cách dễ dàng hơn, từ đó nâng cao nhận thức về sức khỏe. Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cũng được triển khai, giúp người dân hiểu rõ hơn về cách phòng ngừa và quản lý THAĐTĐ. Sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động y tế đã tạo ra một môi trường tích cực, khuyến khích mọi người chủ động chăm sóc sức khỏe bản thân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

07/02/2025
Luận án xây dựng và kết quả thử nghiệm gói dịch vụ y tế cơ bản trong điều trị quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã huyện sóc sơn hà nội 2017 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm trong luận án Y tế cơ sở (YTCS): Theo Chỉ thị số 06-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng; YTCS bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã; là tuyến y tế ban đầu gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp nhất và hiệu quả nhất [1]. Y tế cơ sở là nền tảng để thực hiện vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cũng như sàng lọc, phát hiện sớm và kiểm soát bệnh tật [2]. Gói dịch vụ y tế cơ bản (DVYTCB): Có nhiều khái niệm khác nhau về gói dịch vụ y tế mà mỗi quốc gia cần cam kết đảm bảo cung ứng cho đại đa số người dân và đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận được các dịch vụ cơ bản này tùy theo điều kiện thực tế và mục tiêu của mỗi quốc gia.

Năm 2008, TCYTTQG đưa ra khái niệm: “Gói DVYTCB là những DVYT thiết yếu được xác định dựa trên định hướng ưu tiên của hệ thống y tế của mỗi quốc gia cũng như tính sẵn có về nguồn lực và xã hội mong muốn là mọi người dân đều được hưởng những dịch vụ này” [90]. Tại Việt Nam, gói DVYTCB được xác định theo Luật BHYT sửa đổi 2014 là những DVYT thiết yếu để CSSK, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT [34]. Bệnh không lây nhiễm (BKLN): Theo TCYTTG, các BKLN còn được gọi là bệnh mãn tính, có xu hướng kéo dài, tiến triển chậm và là kết quả của sự kết hợp của các yếu tố di truyền, sinh lý, môi trường và hành vi; 04 loại BKLN chính là bệnh tim mạch (như nhồi máu cơ tim, đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mạn tính và đái tháo đường [96]. Điều trị, quản lý bệnh không lây nhiễm: Là một quy trình do các y tế cơ sở thực hiện bao gồm chẩn đoán, điều trị, cấp cứu, tư vấn cho người mắc một số bệnh không lây nhiễm phổ biến theo hướng dẫn của Bộ Y tế và phạm vi 4 giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở.

Người bệnh được chuyển về các cơ sở y tế tuyến xã để tiếp tục quản lý và điều trị sau khi đã được chẩn đoán, điều trị qua giai đoạn cấp hoặc được xác định tình trạng bệnh đã thuyên giảm [20]. Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép, gánh nặng bệnh tật và tử vong do các bệnh không lây nhiễm chủ yếu gồm bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh hô hấp mạn tính đang gia tăng nhanh. Gánh nặng bệnh tật kép được thể hiện từ sự chuyển đổi mô hình bệnh tật từ các bệnh lây nhiễm giảm chậm, trong khi các bệnh không lây nhiễm tăng nhanh. Dữ liệu từ IHME cũng chỉ ra xu hướng của BKLN đang tăng từ 51% (1990) lên đến 74% (2017).

Sự gia tăng gánh nặng bệnh tật do BKLN cho thấy cần có giải pháp hiệu quả trong phòng bệnh và kiểm soát bệnh tật (Hình 1. Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam, xu hướng 1990-2017 Nguồn: Institute of Health Metrics and Evaluation (http://www.org/vietnam) 5 So với các nước khác ở Đông Nam Á, tỷ lệ tử vong do BKLN ở Việt Nam tương đương với Malaysia và Thái Lan, thấp hơn Singapore và Trung Quốc, nhưng cao hơn Lào, Myanmar và Campuchia (Hình 1. Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam so với các nước trong khu vực Nguồn: DALY estimates, WHO member states 2016 (https://www.int/healthinfo/global_burden_disease/estimates/en/index1.html) Đến năm 2019, các BKLN vẫn là nguyên nhân tử vong hàng đầu, lớn hơn tất cả các nguyên nhân tử vong khác cộng lại, ước tính có 592.000 ca tử vong do các BKLN, chiếm 81,4% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đó chủ yếu là tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh hô hấp mạn tính, chiếm 66,2% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân.

41,5% số tử vong do BKLN tại Việt Nam là trước 70 tuổi [23]. Tỷ lệ hiện mắc các BKLN phổ biến cũng đã tăng nhanh qua các năm và số người hiện mắc bệnh trong cộng đồng hiện tại rất lớn. Số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người trưởng thành năm 2021 là 26,2%, tương đương với khoảng 17 triệu người; tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường/tăng đường huyết ở người trưởng thành là 7,06%, tương đương với 4,6 triệu người. 6 Kết quả một nghiên cứu về thực trạng BKLN ở người cao tuổi cho thấy tỷ lệ NCT mắc các bệnh tim mạch là cao nhất với 41,3%, tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh đái tháo đường là 8,3% [31].

Theo Bộ Y tế, năm 2019 gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm đang chiếm tới 73,7% tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong toàn quốc (tính bằng DALY), trong đó bệnh tim mạch chiếm 20,5%, ung thư 13,3%, rối loạn tâm thần kinh chiếm 5,3%, bệnh hô hấp mạn tính 4% và đái tháo đường chiếm 3,9% tổng gánh nặng bệnh tật [28]. Chính sách dự phòng, điều trị và quản lý BKLN tại Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng, chống BKLN, Chính phủ đã thực hiện những cam kết chính trị mạnh mẽ trong việc đẩy lùi các BKLN. Tháng 5 năm 2017, Chính phủ ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; trong đó nêu rõ mục tiêu đến năm 2030, giảm 20 - 25% tỷ lệ tử vong trước 70 tuổi do các BKLN thông qua dự phòng và điều trị, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất bằng việc phát triển mạnh hệ thống dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý các BKLN từ Trung ương đến cấp xã trong cả nước; chú trọng bảo đảm cung cấp dịch vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc liên tục cho người bệnh ở các TYTX [40]. Tại Hội nghị lần thứ sáu năm 2017, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; theo đó, mục tiêu đến năm 2025, 95% trạm y tế (TYT) xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số BKLN và phấn đấu đạt 100% TYT vào năm 2030 thông qua thực hiện đồng bộ các hoạt động phòng, chống các BKLN; chú trọng dự phòng, nâng cao năng lực sàng lọc, phát hiện sớm và kiểm soát bệnh tật; đẩy mạnh quản lý, điều trị các BKLN, bệnh mạn tính tại YTCS.

7 BKLN cũng được đưa vào các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia tại Quyết định số 2331/QĐ-TTg năm 2010, bao gồm bệnh ung thư, THA, ĐTĐ, COPD [36], Quyết định số 1208/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phòng, chống bệnh ung thư, bệnh THA, ĐTĐ, COPD thuộc dự án thành phần số 1 [37], Quyết định số 1125/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số năm 2016-2020 nhấn mạnh mục tiêu khống chế tốc độ gia tăng các BKLN phổ biến [41]. Quyết định số 376/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, COPD, hen phế quản và các BKLN khác giai đoạn 2015-2025 với hướng tiếp cận toàn diện, tập trung kiểm soát các yếu tố nguy cơ, dự phòng mắc bệnh, đồng thời phát hiện sớm để quản lý hiệu quả BKLN. Một trong các giải pháp trọng tâm là tăng cường phát hiện, điều trị, quản lý tại TYTX và cộng đồng cho người mắc bệnh tim mạch, ĐTĐ, COPD, hen phế quản và các BKLN khác, đảm bảo cung cấp dịch vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc liên tục cho người bệnh [38]. BYT đã ban hành Kế hoạch phòng chống BKLN giai đoạn 2015-2020 theo Quyết định số 346/QĐ-BYT ngày 30/1/2015, nhấn mạnh nhiệm vụ phòng, chống các bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, COPD và hen phế quản do đây là những BKLN có tỷ lệ mắc cao và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở người trưởng thành tại Việt Nam [13].

Năm 2016, BYT phê duyệt Dự án truyền thông, vận động xã hội phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, COPD, hen phế quản và các BKLN khác, giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 4298/QĐ-BYT) và Dự án chủ động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, COPD, hen phế quản và các BKLN khác, giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 4299/QĐ- BYT), nhấn mạnh vai trò của việc chủ động dự phòng, giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục và lâu dài tại cơ sở CSSKBĐ [15, 16]. 8 Năm 2017, BYT ban hành Quyết định số 6110/QĐ-BYT về ban hành hướng dẫn xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý TYTX, trong đó đề cập đến hoạt động quản lý BKLN tại TYTX. Cụ thể, người mắc BKLN trên địa bàn xã cần được quản lý các thông tin về tên bệnh, ngày khám, ngày phát hiện, nơi phát hiện, theo dõi diễn biến của bệnh, trường hợp chuyển đi, tử vong; quản lý và cung cấp thuốc theo tháng [17]. Năm 2018, BYT ban hành Thông tư 49/TT-BYT về hướng dẫn hoạt động xét nghiệm trong khám chữa bệnh, theo đó y/bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh, dược sỹ tại TYTX được thực hiện các xét nghiệm nhanh tại CSYT [22].

Cũng năm 2018, BYT đã quy định mức giá khám bệnh, mức giá các dịch vụ kỹ thuật tại TYTX trong Thông tư 39/TT-BYT; theo đó, giá khám bệnh tại TYTX được áp dụng giống như các bệnh viện hạng IV, bằng 70% mức giá của các dịch vụ được quy định ở các bệnh viện hạng III, đối với các TYT được SYT quyết định có giường lưu thì được áp dụng mức giá bằng 50% mức giá ngày giường nội khoa loại 3 của bệnh viện hạng IV [21]. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 2559/QĐ-BYT phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực hiện điều trị, quản lý THA và ĐTĐ theo nguyên lý y học gia đình tại các TYT xã, phường, thị trấn giai đoạn 2018-2020; theo đó, mục tiêu cần đạt đến năm 2019 là 100% TYT được đào tạo về dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý THA và ĐTĐ theo nguyên lý y học gia đình [19]. Thông tư số 20/2019/TT- BYT của Bộ Y tế quy định chỉ tiêu thống kê cơ bản ngành y tế, trong đó có tỷ lệ người bệnh THA, ĐTĐ được phát hiện và tỷ lệ người bệnh THA, ĐTĐ được quản lý, điều trị [25]. Bộ Y tế cũng đã đề cập đến chức năng nhiệm vụ của TYTX trong việc quản lý các ca bệnh qua sổ ghi chép ban đầu trong Thông tư số 37/2019/TT-BYT [26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Kết quả thử nghiệm gói dịch vụ y tế cơ bản cho quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại Sóc Sơn, Hà Nội (2017-2018)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của các dịch vụ y tế cơ bản trong việc quản lý hai bệnh lý phổ biến là tăng huyết áp và đái tháo đường. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những kết quả tích cực từ việc áp dụng gói dịch vụ mà còn chỉ ra những thách thức trong quá trình thực hiện. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, từ đó nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến sức khỏe và y tế, hãy khám phá thêm về căn nguyên và tính nhạy cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn trên trẻ mắc viêm phổi hoặc tìm hiểu về thực trạng rối loạn giấc ngủ của bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe khác nhau trong cộng đồng.