ĐẶT VẤN ĐỀ Loãng xƣơng đã trở thành một vấn đề toàn cầu do điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe chƣa đƣợc cải thiện, do lƣợng canxi và vitamin D không đƣợc cung cấp đầy đủ cũng nhƣ các hoạt động hàng ngày bị giảm sút nên tỷ lệ mắc bệnh loãng xƣơng ở ngƣời cao tuổi là rất cao. Nếu không đƣợc điều trị, xẹp đốt sống có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về thể chất, chức năng và tâm lý làm giảm chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân bởi các chứng: đau lƣng cấp tính và mãn tính, giảm chiều cao, chứng gù cột sống, bệnh phổi do hạn chế hô hấp, giảm chất lƣợng cuộc sống và tăng tỷ lệ tử vong[21]. Ngƣời ta ƣớc tính rằng 1/3 phụ nữ và 1/5 nam giới trên 50 tuổi trên toàn thế giới sẽ bị gãy xƣơng do loãng xƣơng. Loãng xƣơng gây ra hơn 8,9 triệu ca gãy xƣơng hàng năm trên toàn thế giới và hơn một phần ba tổng số ca gãy xƣơng do loãng xƣơng xảy ra ở châu Âu[60].
Loãng xƣơng và khối lƣợng xƣơng thấp ảnh hƣởng đến khoảng 53,6 triệu 54% ngƣời lớn tuổi ở Hoa Kỳ vào năm 2010[70]. Theo một nghiên cứu tại Mỹ năm 2009 cho thấy hàng năm có khoảng 700.000 ngƣời bị xẹp đốt sống do loãng xƣơng, 25% > 50 tuổi và tăng lên 80% ở ngƣời trên 80 tuổi, 84% bệnh nhân đau thắt lƣng mạn tính[14] chi phí điều trị tăng dần theo thời gian và đến 2001 là 17,9 tỷ USD, bệnh thƣờng gặp ở nữ giới. Điều trị nội khoa cho xẹp thân đốt sống mang lại hiệu quả thấp. Việc điều trị bằng thuốc chỉ đạt hiệu quả làm giảm sự mất chất xƣơng, tăng khối lƣợng xƣơng nhƣng chƣa hồi phục lại cấu trúc xƣơng[6].
Phẫu thuật cố định cột sống nhƣ bắt vít, chỉnh gù, cắt thân. cho bệnh nhân xẹp đốt sống có loãng xƣơng mà đa phần là ngƣời cao tuổi chất lƣợng xƣơng kém làm tăng nguy cơ thất bại. Để giảm các triệu chứng của bệnh nhân lún xẹp đốt sống do loãng xƣơng và cải thiện chất lƣợng cuộc sống của họ, phẫu thuật tạo hình đốt sống bằng xi măng sinh học, một phẫu thuật xâm lấn tối thiểu MIS , đã đƣợc phát triển 2 vào những năm 1980 bởi Galibert và cộng sự[29]. Bằng cách sử dụng kim để cung cấp xi măng xƣơng đến đốt sống gãy qua cuống của vòm đốt sống, kỹ thuật này đã giảm đau thành công cho 75–85% bệnh nhân.
So với phƣơng pháp điều trị bảo tồn, bơm xi măng sinh học an toàn, giảm đau tức thì sau phẫu thuật, hiệu quả có thể kéo dài ít nhất 1 năm. Tuy nhiên, phục hồi chiều cao của thân đốt sống bị nén còn hạn chế, điều này có thể xuất hiện trở lại trong giai đoạn sau của quá trình điều trị khiến bệnh nhân vẫn bị chứng gù cột sống và đau thắt lƣng mãn tính. Để khắc phục nhƣợc điểm này kỹ thuật bơm xi măng có bóng kyphoplasty , đƣợc phát triển vào những năm 1990 bởi Tiến sĩ Mark Reiley[58], bơm xi măng có bóng sử dụng một quả bóng để tạo ra một khoang trong xƣơng hủy, sau đó đƣa xi măng xƣơng vào khoang để củng cố đốt sống bị lún xẹp. Sử dụng kỹ thuật này, không chỉ giảm đau lƣng cho bệnh nhân mà còn điều chỉnh các dị tật nhƣ chứng gù.
cung cấp khả năng lấp đầy xi măng có kiểm soát để làm cho xi măng đƣợc phân phối đồng đều hơn trong thân xƣơng lún. Mặc dù mức độ giảm đau tƣơng tự nhau, nhƣng bơm xi măng có bóng ít biến chứng hơn rõ rệt và có nguy cơ tử vong thấp hơn bơm xi măng không bóng Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh kỹ thuật bơm xi măng đã đƣợc thực hiện từ năm 2016 tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả của phƣơng pháp này. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Kết quả phẫu thuật tạo hình thân đốt sống qua da bằng bơm xi măng sinh học có bóng điều trị xẹp đốt sống có loãng xương” nhằm 02 mục tiêu: 1. M tả c i m m s ng, hình ảnh xquang và cộng hƣởng từ ở những bệnh nhân xẹp ốt sống có oãng xƣơng ƣợc tạo hình th n ốt sống qua da bằng bơm xi măng sinh học có bóng tại bệnh viện a khoa tỉnh Bắc Ninh từ tháng 1/2019 ến tháng 5/2021.
Đánh giá kết quả tạo hình th n ốt sống qua da bằng bơm xi măng sinh học có bóng iều trị bệnh nhân xẹp ốt sống có oãng xƣơng tại bệnh viện a khoa tỉnh Bắc Ninh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu ứng dụng cột sống lƣng, thắt lƣng và loãng xƣơng, xẹp đốt sống do loãng xƣơng. Cột sống của cơ thể ngƣời gồm 33 đốt sống liên kết với nhau, bao gồm: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống lƣng, 5 đốt sống thắt lƣng, 5 đốt sống cùng và 3-4 đốt sống cụt.
Chúng đƣợc sắp xếp tuần tự, đƣợc các hệ thống dây chằng và hệ thống cơ vững chắc giúp tạo thành các cột trụ nâng đỡ toàn bộ cơ thể. Cột sống có ba chức năng chính là chức năng mang tải trọng lực, chức năng bảo vệ tủy sống và chức năng vận động[51]. Giải phẫu ốt sống. Đặc điểm chung của đốt sống.
Mỗi đốt sống gồm 3 thành phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm đốt sống và lỗ đốt sống[2]. Th n ốt sống. - Thân đốt sống có hình trụ dẹt, có hai mặt gian đốt sống và một vành chung. Hai mặt nằm ngang, một phía trên và một phía dƣới.
Cả hai mặt đều 4 lõm ở giữa, có viền xung quanh bằng tổ chức xƣơng đặc. Các mặt này tiếp khớp với các đốt sống trên và dƣới qua các đĩa gian đốt sống. - Vành là diện vây quanh thân đốt sống. Vành hơi lõm lòng máng ở phía trƣớc và hai bên, phía sau vành lõm sâu hơn tạo nên thành trƣớc của ống sống.
- Thân đốt sống, nhất là phía sau có nhiều lỗ cho mạch máu chui vào nuôi xƣơng. Thân đốt sống có kích thƣớc tăng dần từ đốt trên tới đốt dƣới, phù hợp với sự tăng dần từng phần cơ thể và lực tác dụng lên các đốt phía dƣới. Cung ốt sống. Cung đốt sống tính từ rìa phần vành của mặt sau thân đốt sống hai bên quay vào nhau hình thành lỗ đốt sống.Cung đốt sống bao gồm cuống cung đốt sống phía trƣớc và mảnh cung đốt sống phía sau.
- Cuống cung đốt sống là hai cột xƣơng, một ở bên phải, một ở bên trái. Cuống dẹt theo bề ngang. Bờ trên và bờ dƣới của cuống lõm vào gọi là khuyết đốt sống. Khuyết dƣới của đốt sống hợp cùng với khuyết trên của đốt sống ở ngay dƣới thành một lỗ gọi là lỗ gian đốt, nơi đi qua của dây thần kinh sống và các mạch máu.
- Mảnh cung đốt sống là hai mảnh xƣơng nối từ hai cuống đến mỏm gai tạo nên thành sau của lỗ đốt sống. Mảnh hình dẹt bốn cạnh, có hai mặt trƣớc và sau, hai bờ trên và dƣới. Ở mặt trƣớc của mảnh có một chỗ gồ ghề là nơi bám của dây chằng vàng. Mặt sau của mảnh liên quan với khối cơ chung.
Mỏm ốt sống v ỗ ốt sống - Các mỏm đốt sống đi ra từ cung đốt sống, có hai mỏm ngang hai bên, hai mỏm khớp trên, hai mỏm khớp dƣới và một mỏm ngang phía sau, trong đó mỏm khớp nằm ở điểm tiếp nối giữa cuống, mảnh và mỏm ngang. Trên mặt sau của nền mỗi mỏm ngang có một củ nhỏ gọi là mỏm phụ. Trên và trong mỏm phụ có mỏm vú. - Eo là phần cung sau thắt lại nối cuống, gai ngang, mảnh và hai mỏm khớp trên và dƣới của mỗi thân đốt sống.2: Giải phẫu cung ốt sống và các mỏm ốt sống - Lỗ đốt sống do cung đốt sống từ hai phía tạo nên.
Các lỗ đốt sống xếp với nhau theo tuần tự hình thành nên ống sống, là nơi chứa tủy sống bên trong. Giải phẫu ứng dụng Kích thƣớc của thân đốt sống và cuống sống tăng dần từ đoạn cổ đến đoạn thắt lƣng. Do vậy, khi chọc đốt sống ngƣời ta thƣờng dùng Troca 11G đối với đốt sống thắt lƣng và ngực thấp, dùng Troca 13G cho các đốt sống ngực cao. - Các rễ thần kinh và mạch máu nằm ở góc trên của lỗ gian đốt sống, vì vậy khi chọc qua cuống thì đƣờng đi của Troca phải ở nửa trên của cuống sống, tránh gây tổn thƣơng rễ thần kinh và mạch máu.
- Khi áp dụng đƣờng chọc sau bên, đối với đoạn cột sống ngực, điểm chọc của Troca phải luôn luôn nằm phía trong đƣờng gấp của màng phổi, tránh 6 gây tràn khí màng phổi. Ở đoạn cột sống thắt lƣng, do đƣờng đi của Troca xuyên qua cơ thắt lƣng chậu, cần theo dõi tụ máu trong cơ thắt lƣng chậu. Loãng xương và xẹp đốt sống do loãng xương 1. Định nghĩa v ph n oại oãng xƣơng Loãng xƣơng là bệnh đƣợc đặc trƣng bởi sự giảm khối xƣơng, tổn hại đến vi cấu trúc của mô xƣơng dẫn đến ròn xƣơng và nguy cơ gẫy xƣơng tăng[72].
Có hai loại loãng xƣơng: - Loại thứ nhất: Loãng xƣơng xuất hiện khoảng 20 năm sau mãn kinh. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xẹp đốt sống hoặc gãy đầu dƣới xƣơng quay (kiểu Colles) do mất chất xƣơng chủ yếu ở phần bè xƣơng. Sự giảm estrogen là nguyên nhân chính, ngoài ra có sự giảm chức năng của hormone cận giáp. - Loại thứ hai: loãng xƣơng gặp ở những phụ nữ và nam giới tuổi từ 70 - 75 trở lên, với biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xƣơng đùi.
Sự mất chất xƣơng ở bè xƣơng và vỏ xƣơng tƣơng đƣơng nhau. Nguyên nhân chính là do tuổi già và cƣờng hormon cận giáp thứ phát. - Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy một số bệnh và một số thuốc cũng là nguyên nhân gây loãng xƣơng nhƣ: chấn thƣơng cột sống, đái tháo đƣờng, cƣờng tuyến giáp, cƣờng cận giáp, viêm khớp dạng thấp, các bệnh liên quan đến rối loạn hấp thu (cắt dạ dày, ruột), bệnh phổi mãn tính, bệnh gan mãn tính, bệnh thận, đa u tủy xƣơng, ung thƣ xƣơng…, việc sử dụng heparin, corticoid, thuốc chống động kinh. Loãng xƣơng do những nguyên nhân trên đƣợc xếp vào loại thứ 3 là loãng xƣơng thứ phát[53].
Đo mật ộ xƣơng chẩn oán oãng xƣơng Đo độ hấp thụ tia X năng lƣợng kép - DEXA (Dual-energy X-ray Absorptionmetry : nguyên lý giống nhƣ đo độ hấp phụ photon kép nhƣng sử dụng tia X thay vì chất đồng vị phóng xạ. Kết quả chính xác, đo đƣợc ở các vị trí trung tâm. Ƣu điểm: độ chính xác cao thời gian thăm dò ngắn, liều tia xạ thấp. Ngoài cột sống và cổ xƣơng đùi còn đo đƣợc các xƣơng ngoại vi toàn cơ thể.