Triệu Chứng Học Nội Khoa Tập 1: Cẩm Nang Dành Cho Sinh Viên Y Khoa

Tài liệu nghiên cứu Triệu chứng học nội khoa tập 1 phần 1, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sách

2018

227
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TIẾP CẬN BỆNH NHÂN NỘI KHOA VÀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TRONG THỰC HÀNH KHÁM, CHỮA BỆNH

2. CHƯƠNG 2: TRIỆU CHỨNG HỌC CẤP CỨU

3. CHƯƠNG 3: TRIỆU CHỨNG HỌC CƠ QUAN HÔ HẤP

4. CHƯƠNG 4: TRIỆU CHỨNG HỌC CƠ QUAN TIM MẠCH

5. CHƯƠNG 5: TRIỆU CHỨNG HỌC BỘ MÁY VẬN ĐỘNG

6. CHƯƠNG 6: TRIỆU CHỨNG HỌC CƠ QUAN THẬN - TIẾT NIỆU

Tóm tắt

I. Hướng Dẫn Tổng Quan Về Triệu Chứng Học Nội Khoa Tập 1

Triệu chứng học nội khoa là một lĩnh vực quan trọng trong y học, giúp sinh viên và bác sĩ hiểu rõ về triệu chứng bệnh lý. Cuốn sách 'Hướng Dẫn Triệu Chứng Học Nội Khoa Tập 1' cung cấp kiến thức cơ bản và hệ thống về triệu chứng học, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Nội dung sách được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực y học, đảm bảo tính chính xác và cập nhật.

1.1. Khái Niệm Về Triệu Chứng Học Nội Khoa

Triệu chứng học nội khoa là môn học nghiên cứu về triệu chứng của các bệnh lý nội khoa. Môn học này giúp sinh viên y khoa nắm vững cách tiếp cận bệnh nhân và khai thác thông tin cần thiết để chẩn đoán.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Triệu Chứng Học

Triệu chứng học đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và chẩn đoán bệnh. Nó giúp bác sĩ hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và từ đó đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả.

II. Những Thách Thức Trong Việc Chẩn Đoán Triệu Chứng Nội Khoa

Chẩn đoán triệu chứng nội khoa gặp nhiều thách thức do sự đa dạng và phức tạp của triệu chứng bệnh. Việc phân biệt triệu chứng của các bệnh lý khác nhau là rất khó khăn, đòi hỏi bác sĩ phải có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm thực tiễn.

2.1. Đặc Điểm Phức Tạp Của Triệu Chứng

Nhiều triệu chứng có thể xuất hiện ở nhiều bệnh khác nhau, gây khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác. Bác sĩ cần phải phân tích kỹ lưỡng để đưa ra kết luận đúng đắn.

2.2. Tâm Lý Bệnh Nhân Trong Chẩn Đoán

Tâm lý của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán. Sự lo lắng và thiếu thông tin có thể dẫn đến việc bệnh nhân không cung cấp đầy đủ triệu chứng, làm khó khăn cho bác sĩ.

III. Phương Pháp Chẩn Đoán Triệu Chứng Nội Khoa Hiệu Quả

Để chẩn đoán triệu chứng nội khoa hiệu quả, bác sĩ cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là rất cần thiết để nâng cao khả năng chẩn đoán.

3.1. Khám Lâm Sàng Đầy Đủ

Khám lâm sàng là bước đầu tiên và quan trọng trong chẩn đoán. Bác sĩ cần thực hiện các bước khám một cách tỉ mỉ để phát hiện triệu chứng lâm sàng.

3.2. Sử Dụng Các Kỹ Thuật Chẩn Đoán Hiện Đại

Việc áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại như siêu âm, chụp X-quang, và xét nghiệm máu giúp bác sĩ có cái nhìn rõ hơn về tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Triệu Chứng Học Nội Khoa

Triệu chứng học nội khoa không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc điều trị bệnh. Các bác sĩ có thể áp dụng kiến thức này để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

4.1. Phân Tích Triệu Chứng Để Đưa Ra Phác Đồ Điều Trị

Phân tích triệu chứng giúp bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả. Việc hiểu rõ triệu chứng sẽ giúp bác sĩ lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị phù hợp.

4.2. Theo Dõi Tiến Triển Bệnh Nhân

Theo dõi triệu chứng của bệnh nhân trong quá trình điều trị là rất quan trọng. Điều này giúp bác sĩ điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời và hiệu quả.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Triệu Chứng Học Nội Khoa

Triệu chứng học nội khoa sẽ tiếp tục phát triển và đóng vai trò quan trọng trong y học hiện đại. Việc cập nhật kiến thức và kỹ năng là cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

5.1. Xu Hướng Phát Triển Trong Triệu Chứng Học

Xu hướng phát triển trong triệu chứng học sẽ tập trung vào việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phương pháp chẩn đoán mới, giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán.

5.2. Đào Tạo Chuyên Gia Triệu Chứng Học

Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực triệu chứng học là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

15/07/2025
Triệu chứng học nội khoa tập 1 phần 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TIẾP CẬN BỆNH NHÂN NỘI KHOA VÀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TRONG THỰC HÀNH KHÁM, CHỮA BỆNH lên, có thể đó là một biểu hiện của lao cột sống. Tìm các di chứng gẫy xương hoặc bệnh cũ về xương. Tâm phế mạn, hội chứng Pierre Marie, xơ gán ứ mật tiên phát (bệnh Hanot).

Kiểm tra các chất thải tiết: đây chỉ là nhận xét sơ bộ trên lâm sàng, cần được bổ sung thêm bằng các xét nghiệm cận lâm sàng các chẩt đó. Tuy nhiên, sự nhận xét sơ bộ này có khi rất có ích vì nó cung cấp ngay ở giường bệnh những yếu tố cần thiết cho chẩn đoán. Nước tiểu có thể có màu vàng khè, gặp trong vàng da, thông thường do bệnh gan mật; hoặc màu đỏ có thể là do đái ra máu hay nhiễm khuẩn đường tiết niệu; hoặc trắng như nước vo gạo trong bệnh đái ra dưỡng chẩp; hoặc màu đen nhạt do alcapton có trong nước tiểu; hoặc màu xanh do dùng thuốc xanh methylen, đỏ trong dùng phenoiphtalein, aminopyrin. Phân có thể nhầy máu trong hội chứng kiết lỵ, đen như cà phê nếu có chảy máu đường tiêu hoá, đen cứng khi dùng bismuth uống.

Đờm có tia máu lẫn cục trong ho ra máu, có mủ trong áp xe phổi, có mủ máu màu sôcôla trong áp xe phổi do a míp. Chất nôn có máu cục, trong xuất huyết dạ đày, chất nôn do thức ăn mới đưa vào, trong hẹp môn vị, chất nôn có mật, chất nôn có mùi thuốc trừ sâu, do uống phải chất này (tự tử hoặc uống nhầm). Các chất thể dịch có thể được lấy ra và trước khi đưa thử xét nghiệm, được quan sát trước bằng mắt thường xem có màu sắc, số lượng, có mủ hay chất nào khác (dưỡng chấp, muối mật.), các thể dịch cơ thể là nước màng phổi, màng tim, màng bụng, màng não, màng tinh hoàn, màng khớp. KHÁM BỆNH NGƯỜI GIÀ Phần khám bệnh cho trẻ em đã được giới thiệu trong nhi khoa; cho phụ nữ đã giới thiệu trong sản - phụ khoa.

Ở đây nói về khám bệnh cho người già là đối tượng ngày càng nhiều do tuổi thọ trung bình ngày càng tăng. Khám bệnh người già không hoàn toàn giống như với người trẻ vì bệnh lý tuổi già có một số đặc điểm cần chú ý. Đặc điểm bệnh lý tuổi già Người già thường mắc nhiều bệnh. Cùng một lúc ở cơ thể người già có nhiều khác nhau, nhất là các bệnh mạn tính.

Trên cơ sở các bệnh mạn tính đó, hay có những bệnh cấp tính xuất hiện. Già không phải là bệnh, nhưng già làm cho bệnh để phát sinh và phát triển. Hiện tượng có nhiều bệnh cũng một lúc với tính chất khác nhau, mức độ khác nhau, chịu ảnh hưởng qua lại rất phức tạp, làm cho việc khám bệnh phải rất tỷ mỉ, việc phân tích và tổng hợp phải rất đầy đủ mới mong chẩn đoán, tiên lượng, điều trị được chính xác. 20 TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA - Tập I Triệu chứng bệnh thường không điển hình Phản ứng của cơ thể già đối với tác nhân gây bệnh khác với cơ thể trẻ; hơn nữa lại mắc nhiều bệnh một lúc, cho nên triệu chứng không còn điển hình nữa, cả về phương diện lâm sàng lẫn cận lâm sàng.

Ở tuổi già, ranh giới giữa sinh lý (quá trình lão hoá tự nhiên) với bệnh 1ý, thường không được rõ ràng nữa. Tiến triển của bệnh không điển hình khiến cho việc tiên lượng bệnh cũng khó khăn không đơn giản. Tâm lý người giả khác với người trẻ. Có bệnh nhân tiếp xúc tốt, hợp tác với thầy thuốc trong việc thăm khám và chữa bệnh; nhưng cũng có bệnh nhân tính tình thất thường, khó tiếp xúc, ít hợp tác.

Trí nhớ thường giảm, sự minh mẫn bị hạn chế, làm cho đôi khi phản ảnh các triệu chứng kém chính xác. Không ít bệnh nhân trong trạng thái trầm cảm, không muốn giao thiệp với ai và khước từ cả mọi thăm khám, xét nghiệm, thực hiện các biện pháp thăm dò chức năng, chấp hành quy tắc điều trị. Các bệnh người già mắc thường không giống với người trẻ Ở người già các bệnh do thoái hoá, các bệnh ung thư, tự miễn, tai nạn do thuốc men có phần nhiều hơn người trẻ. Đối tượng này có nhiều bệnh mạn tính với các biến chứng phổ biến và da dạng nên lúc khám bệnh phải chú ý trước hết đến một số bệnh thông thường gặp ở người già hơn các bệnh khác.

Sau khi thăm khám, thăm dò chức năng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng, phải đi đến kết luận chẩn đoán bệnh chính, bệnh phụ, giai đoạn bệnh, biến chứng bệnh. Chỉ khi nêu được chẩn đoán đầy đủ như vậy mới có thể đề ra được kế hoạch điều trị phù hợp. Tiếp xúc người bệnh Tiếp xúc với người già để hỏi bệnh và thăm khám cần lưu ý đến thái độ và tác phong. Phải thể hiện tinh thần thương yêu, kính trọng, thông cảm với tuổi già, từ cách xưng hô, lời nói, thái độ, đến cách chăm sóc hàng ngày.

Người già - nói ra hay không nói ra - dễ tự ti và dễ có mặc cảm cho là mọi người ít quan tâm đến mình, là gánh nặng của xã hội; vì vậy khi họ trình bày bệnh tật, những điều họ băn khoăn, cẩn phải chú ý lắng nghe với thái độ quan tâm thực sự, không nên vội ngắt lời. Vì riêng việc được giãi bày ý kiến tâm tư nguyện vọng cũng đã làm cho họ yên tâm tin tưởng và sẵn sàng cộng tác với chuyên môn. Nếu họ nói lan man quá, lúc đó sẽ lái khéo họ về trọng tâm một cách nhẹ nhàng. Cần kiên nhẫn, tránh tỏ thái độ sốt ruột, nôn nóng, tác phong vội vã, lạnh nhạt, coi thường.

Ngay từ đầu đã phải chú ý phân loại 3 đối tượng khác nhau: một là những người bệnh sức khỏe còn tốt, tiếp xúc dễ vì trí tuệ còn minh mẫn. Trong trường hợp này, việc hỏi bệnh có thể không có gì khác lắm so với khám bệnh thông thường ở người trẻ. Hai là người suy yếu, vì cơ thể đã có nhiều biến đổi, có nhiều bệnh mạn tính, tinh thần không hoàn toàn bình thường, việc tiếp xúc, hỏi bệnh thăm khám ở đây khó khăn hơn. Ở đây cần có sự kíên trì động viên để tranh thủ tối đa sự cộng tác của người bệnh.

Ba là loại người cơ thể đã suy kiệt do quá già, hoặc bệnh tật lâu ngày, nhiều khi đái ỉa không 21 CHƯƠNG 1. TIẾP CẬN BỆNH NHÂN NỘI KHOA VÀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TRONG THỰC HÀNH KHÁM, CHỮA BỆNH tư chủ, tinh thần lú lẫn. Việc tiếp xúc, hỏi bệnh, thăm khám rất khó khăn. Ở đây cẩn tranh thủ sự giúp đỡ của gia đình, người quen để có thể khai thác được tiền sử, triệu chứng.

Nếu bổ khuyết bằng thăm khám kỹ lưỡng, tận dụng các phương pháp cận lâm sàng, nhất là loại không chảy máu để cố gắng có được chẩn đoán chính xác trong phạm vi cho phép. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được qua loa, đại khái, nản chí, vô trách nhiệm vi lý do là người bệnh đã quá già yếu. Khai thác các triệu chứng chủ quan Để khai thác triệu chứng được kết quả, bước đầu có thể nhìn bao quát nhằm mục đích đánh giá tình trạng chung của người bệnh, sau đó mới bắt đầu hỏi bệnh một cách có hệ thống, đi sâu vào những phần liên quan đến bệnh. Đánh giá tình trạng chung của đối tượng Phần này nhằm mục đích xem khả năng cộng tác của người bệnh như thế nào, qua đó đánh giá xem các triệu chứng mà người bệnh cung cấp có giá trị đến đâu.

Có thể bảo người bệnh ngồi xuống đứng lên, đi lại và bước để xem sự biểu hiện của họ, tình trạng chung của toàn thân, khả năng vận động, khả năng chấp hành những yêu cầu của chuyên môn. Kiểm tra nhanh chóng khả năng nghe, nhìn; có thể đưa cho họ một tờ báo và đề nghị họ đọc một đoạn. Hỏi bệnh một cách có hệ thống Trước hết tìm hiểu xem người bệnh đã mắc những bệnh gì cho đến nay, nhất là các bệnh mạn tính hay gặp ở người giả như loét dạ dày, tá tràng, viêm đại tràng mạn, viêm phế quản mạn, viêm cầu thận mạn, tăng huyết áp, đái tháo đường, thoái khớp. Nếu trong tiền sử có những bệnh đó thì phải thận trọng trong điều trị những bệnh hiện nay bệnh nhân đương mắc vì có thể gây những biến chứng.

Cũng cần hỏi xem đã nằm bệnh viên chưa và đã được điều trị những gì vì trải qua nhiều năm, người bệnh cũng đã mắc nhiều bệnh và hậu quả là hiện nay bệnh không còn điển hình nữa, việc kháng thuốc, quen thuốc thường hay gặp. Cần đặc biệt khai thác những triệu chứng sớm của ung thư, vì bệnh này rất phổ biến ở người già và khi bệnh đã rõ thì chữa chạy rất khó, chú ý triệu chứng xuất huyết không có duyên cớ rõ rệt, gầy sút nhanh, xuất hiện nhiều hạch u cục. Trong hỏi bệnh cần chú ý điều tra tình hình sống hiện nay: điều kiện ăn ở, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế xã hội. Có những người được gia đình chăm sóc chu đáo, nhưng cũng không ít người gặp khó khăn, gia đình neo đơn thiếu thốn, cần sự hỗ trợ của xã hội.

Nếu hỏi bệnh lần đầu không thu được kết quả mong muốn thì cần tìm những dịp khác để khai thác được kỹ hơn. Trong những lần khám sau, nên kiểm tra lại những lời khai trước để xem có ăn khớp không vị trí nhớ và khả năng tiếp thu, khả năng diễn đạt của người giả thường rất hạn chế. Khi có điều kiện, có thể hỏi thêm người nhà. Hỏi bệnh phải rất kiên nhẫn, cố gắng khách quan, tránh định kiến, suy diễn, mà phải có các suy xét phê phán mới thu được những thông tin bổ ích có độ tin cậy cần thiết.

22 TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA - Tập I 3. Khám bệnh Về cơ bản cách khám người già không khác với khi khám người trẻ. Nhưng do đặc điểm cơ thể và bệnh lý tuổi già nên cần chủ ý một số triệu chứng sau đây. Khi khám toàn thân Về da cần quan sát màu da xem có vàng không.

Da vàng nhạt thì phải tìm xem có ung thư ở cơ quan tiêu hóa không, có bệnh thiếu máu tan huyết không. Khi vàng rõ rệt phải tìm xem có sỏi mật hoặc ung thư nơi khác di căn đến gan. Nếu da nhợt nhạt phải tìm nguyên nhân thiếu máu, suy tuỷ, xuất huyết nội. Dạ sạm phải nghĩ đến bệnh Hanot, Addison.

Da tím nghĩ đến suy tim, suy hô hấp mạn, tâm phế mạn. Tình trạng của da thường phản ánh sớm và khá rõ tình trạng hoá già.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ