Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 đặt trọng tâm vào việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cho học sinh thông qua bốn kĩ năng: đọc, viết, nói và nghe. Ở hoạt động dạy viết, chương trình yêu cầu chuyển dịch từ phương thức dạy học chú trọng vào sản phẩm cuối cùng sang rèn luyện kĩ năng viết theo tiến trình bốn bước: Chuẩn bị trước khi viết; Tìm ý và lập dàn ý; Viết bài; Xem lại, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm. Trong tiến trình này, giai đoạn tìm ý và lập dàn ý đóng vai trò nền tảng, quyết định cấu trúc và chất lượng lập luận của bài viết.

Ở cấp Trung học phổ thông, chương trình Ngữ văn lớp 11 đặt ra yêu cầu cần đạt về kiểu bài viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật. Trong khi nghị luận về tác phẩm văn học là dạng bài quen thuộc, việc nghị luận về các loại hình nghệ thuật khác (điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu) là nội dung hoàn toàn mới, gây nhiều lúng túng cho cả giáo viên và học sinh trong việc xác định luận điểm, tìm kiếm chứng cứ đặc thù và huy động tri thức nền. Đặc biệt, năm học 2023–2024 là năm đầu tiên triển khai dạy học chương trình lớp 11 mới, đòi hỏi phải có những hướng dẫn chi tiết về quy trình hình thành ý tưởng cho kiểu bài này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất quy trình phát triển ý tưởng và các biện pháp sư phạm nhằm hỗ trợ giáo viên hướng dẫn học sinh lớp 11 tìm ý, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật, từ đó nâng cao chất lượng dạy học kĩ năng viết theo tiến trình.

Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc đề xuất quy trình phát triển ý tưởng và các biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 11 phát triển ý tưởng trong việc viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.
  2. Khảo sát, mô tả và phân tích thực tiễn hướng dẫn học sinh phát triển ý tưởng ở trường Trung học phổ thông; thực tiễn xây dựng ý tưởng cho bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật của học sinh.
  3. Đề xuất quy trình phát triển ý tưởng cho bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp hướng dẫn học sinh phát triển ý tưởng trong quá trình viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động phát triển ý tưởng đối với kiểu bài nghị luận về tác phẩm nghệ thuật của học sinh lớp 11; địa bàn khảo sát gồm các trường Trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 10, Quận Bình Tân); cơ sở thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2023–2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết và khái niệm, khóa luận tiếp cận văn bản nghị luận dưới góc độ kiểu văn bản dùng lí lẽ, bằng chứng nhằm thuyết phục người đọc về một quan điểm, lập trường cụ thể (dẫn chiếu Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, ACARA, Nguyễn Quốc Siêu, Hoàng Phê). Cấu trúc văn bản nghị luận gồm ba thành tố cốt lõi: Luận điểm (ý kiến thể hiện quan điểm), Luận cứ (lí lẽ và bằng chứng) và Lập luận (cách thức phối hợp lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm).

Khái niệm tác phẩm nghệ thuật được xác định là sản phẩm của quá trình sáng tạo trong các lĩnh vực nghệ thuật nhằm truyền tải tư tưởng, tình cảm và mang giá trị thẩm mĩ. Dựa trên cơ sở phân loại của Maurice Nédoncelle theo giác quan tiếp nhận, tác giả phân chia tác phẩm nghệ thuật thành 3 nhóm phục vụ dạy học:

  • Nhóm nghệ thuật thị giác (kiến trúc, hội họa, điêu khắc).
  • Nhóm nghệ thuật thính giác (âm nhạc, văn học).
  • Nhóm nghệ thuật thị giác và thính giác / nghệ thuật tổng hợp (sân khấu, điện ảnh).

Về lý thuyết quy trình viết và phát triển ý tưởng, đề tài dựa trên quan điểm của Murray (1972) về dạy viết theo tiến trình (trong đó giai đoạn trước khi viết chiếm tới 85% thời gian), mô hình nhận thức của Flower và Hayes (1981), mô hình 3 bước phát triển ý tưởng của Puji Hariati (2020: Động não $\rightarrow$ Liệt kê luận điểm $\rightarrow$ Lập dàn ý), cùng các công trình nghiên cứu dạy viết của Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Thị Xuân Mai (2017), Nguyễn Bích Trâm (2019), Trần Văn Cảnh và Nguyễn Thị Hồng Nam (2019). Tác giả xác định: phát triển ý tưởng trong quá trình viết là hoạt động tư duy gồm khởi tạo, sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng thông qua hai thao tác then chốt là tìm ý và lập dàn ý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ qua hai nhóm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu và tổng hợp tài liệu chuyên ngành về lí luận dạy học Ngữ văn, văn bản nghị luận, phân loại tác phẩm nghệ thuật và các định hướng trong chương trình giáo dục.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi: Khảo sát thực trạng giảng dạy của 26 giáo viên Ngữ văn Trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và thu thập ý kiến học sinh sau tiết thực nghiệm.
    • Phương pháp khảo sát sản phẩm học tập: Khảo sát, phân tích 217 dàn ý bài viết của học sinh 5 lớp 11 tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến trước thực nghiệm.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án và tổ chức dạy thực nghiệm tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, Quận 10.
    • Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Sử dụng toán thống kê để phân loại, đối chiếu các chỉ số định lượng từ phiếu khảo sát và kết quả kiểm tra trước/sau thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm văn bản Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, 3 bộ sách giáo khoa lớp 11 hiện hành (Cánh Diều, Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo), cùng toàn bộ dữ liệu khảo sát giáo viên và bài làm của học sinh thu được tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc hướng dẫn HS phát triển ý tưởng trong quá trình viết VBNL về một TPNT

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho việc hướng dẫn học sinh phát triển ý tưởng. Về mặt lí luận, tác giả phân tích đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Trung học phổ thông (15–18 tuổi) với sự phát triển của tư duy trừu tượng, tư duy lí luận và nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân, cho thấy đây là đối tượng thuận lợi để tiếp nhận kiểu bài nghị luận đòi hỏi chính kiến. Tác giả lưu ý 4 vấn đề sư phạm trọng tâm khi dạy học kiểu bài này: phát triển năng lực thẩm mĩ, bổ sung tri thức nền về tác phẩm nghệ thuật, định hướng học sinh xác định khía cạnh bàn luận dựa trên đặc trưng từng loại hình nghệ thuật và vận dụng các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực (dạy học hợp tác, đàm thoại gợi mở, công não, khăn trải bàn, 4 ô vuông, KWL).

Về khảo sát sách giáo khoa lớp 11, tác giả chỉ ra đặc điểm của 3 bộ sách:

  • Bộ Cánh Diều: Cung cấp ngữ liệu mẫu "Vở kịch Thúy Kiều – một kiếp đoạn trường", tuy nhiên câu hỏi hướng dẫn tìm ý và lập dàn ý còn chung chung, chưa làm nổi bật đặc trưng riêng của từng loại hình nghệ thuật.
  • Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống: Xây dựng hệ thống câu hỏi tìm ý cụ thể theo loại hình (điện ảnh: cốt truyện theo kịch bản; hội họa/điêu khắc: trường phái, chất liệu; ca khúc/tạo hình: đề tài, chủ đề; giá trị tác phẩm qua sự đón nhận của công chúng, doanh thu, lượt xem, bài phê bình).
  • Bộ Chân trời sáng tạo: Phân chia kiểu bài trải dài qua các bài học ở cả hai học kì (bài hát trong bài Khát khao đoàn tụ, bộ phim trong bài Băn khoăn tìm lẽ sống, bức tranh/pho tượng trong bài Cái tôi – thế giới độc đáo), giúp học sinh tiếp cận toàn diện các đối tượng nghệ thuật.

Về khảo sát thực tiễn 26 giáo viên Ngữ văn tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả tổng hợp những khó khăn chủ yếu khi hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý:

Khó khăn giáo viên gặp phải Số lượng GV Tỉ lệ (%)
Học sinh không có thói quen tìm ý và lập dàn ý trước khi viết bài 18 69,2%
Không đủ thời gian hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý 15 57,7%
Học sinh không nêu được ý kiến / nhận xét về tác phẩm nghệ thuật 12 46,2%
Học sinh không tìm được thông tin cụ thể, chính xác về tác phẩm nghệ thuật 9 34,6%
Giáo viên phải chuẩn bị học liệu khá phức tạp (ngữ liệu, hình ảnh, video...) 9 34,6%
Chưa tìm được giải pháp cho học sinh không có ý tưởng 1 3,8%

Khảo sát 217 dàn ý của học sinh 5 lớp 11 Trường THPT Nguyễn Khuyến cho thấy nhiều học sinh bỏ trống hoàn toàn bước tìm ý và lập dàn ý do thói quen viết trực tiếp, tâm lí xem nhẹ vì không được chấm điểm riêng, hoặc không kịp thời gian.

Chương 2: Đề xuất quy trình phát triển ý tưởng và biện pháp hướng dẫn HS lớp 11 phát triển ý tưởng trong quá trình viết VBNL về một TPNT

Trên cơ sở lí thuyết và thực trạng đã phân tích, chương 2 xây dựng khung quy trình phát triển ý tưởng gồm 4 hoạt động liên hoàn, kèm theo hệ thống biện pháp và công cụ hỗ trợ cụ thể:

  1. Hoạt động phác thảo ý tưởng: Biện pháp hướng dẫn học sinh kích hoạt tri thức nền về tác phẩm nghệ thuật thông qua câu hỏi gợi mở, kĩ thuật công não (brainstorming), ghi chép từ khóa ban đầu và xác định phạm vi vấn đề cần bàn luận.
  2. Hoạt động thu thập thông tin: Biện pháp hướng dẫn học sinh tra cứu, thu thập tư liệu từ các nguồn chính thống (sách báo, bảo tàng, website uy tín). Tác giả thiết kế Phiếu thu thập thông tin cho bài viết giúp học sinh ghi nhận có hệ thống thông tin tác giả, hoàn cảnh ra đời, đặc trưng hình thức/nội dung và đánh giá của giới chuyên môn.
  3. Hoạt động sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng: Biện pháp hướng dẫn học sinh phân loại, lựa chọn thông tin để thiết lập hệ thống luận điểm, luận cứ. Tác giả thiết kế Phiếu học tập hướng dẫn sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng cùng Dàn ý khái quát của kiểu bài nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật nhằm giúp học sinh liên kết chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng đặc thù của từng loại hình nghệ thuật.
  4. Hoạt động điều chỉnh ý tưởng: Biện pháp hướng dẫn học sinh tự rà soát, đối chiếu và hoàn thiện dàn ý trước khi viết thành văn bản hoàn chỉnh. Tác giả xây dựng Phiếu học tập hướng dẫn điều chỉnh ý tưởng và Bảng kiểm đánh giá bài viết nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức dạy thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của quy trình và các biện pháp đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến (Quận 10, TP. Hồ Chí Minh) trên đối tượng học sinh lớp 11 trong năm học 2023–2024.

Quy trình thực nghiệm trải qua các bước:

  • Thiết kế kế hoạch bài dạy theo các biện pháp đề xuất tại Chương 2.
  • Tiến hành giờ dạy thực nghiệm có sử dụng hệ thống phiếu học tập và bảng kiểm.
  • Thu thập dữ liệu sau thực nghiệm thông qua bài kiểm tra kĩ năng tìm ý, lập dàn ý và phiếu khảo sát ý kiến học sinh.
  • Xử lí, phân tích số liệu định lượng và định tính.

Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh ở nhóm thực nghiệm nắm vững các thao tác xác lập luận điểm, biết cách khai thác các chi tiết nghệ thuật chuyên biệt (màu sắc, bố cục, góc máy, giai điệu...) làm bằng chứng, đồng thời hình thành ý thức rõ rệt về tầm quan trọng của việc lập dàn ý trước khi viết.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp chính sau:

  • Làm rõ bức tranh thực tiễn dạy học kiểu bài nghị luận về tác phẩm nghệ thuật tại các trường Trung học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh; lượng hóa các khó khăn của giáo viên (69,2% gặp trở ngại do học sinh thiếu thói quen lập dàn ý; 57,7% thiếu thời gian trên lớp) và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến lỗi lập dàn ý ở học sinh qua khảo sát 217 sản phẩm học tập.
  • Đề xuất quy trình phát triển ý tưởng 4 hoạt động (Phác thảo ý tưởng $\rightarrow$ Thu thập thông tin $\rightarrow$ Sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng $\rightarrow$ Điều chỉnh ý tưởng) bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018.
  • Xây dựng hệ thống công cụ dạy học thực hành đồng bộ gồm: Phiếu thu thập thông tin, Phiếu học tập sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng, Dàn ý khái quát, Phiếu điều chỉnh ý tưởng và Bảng kiểm đánh giá bài viết.
  • Đóng góp khoa học của đề tài là đã cụ thể hóa thao tác tìm ý và lập dàn ý cho kiểu bài nghị luận về tác phẩm nghệ thuật phi ngôn ngữ (hội họa, âm nhạc, điện ảnh, điêu khắc, sân khấu) – một khoảng trống mà các công trình nghiên cứu trước đây (vốn chỉ tập trung vào nghị luận tác phẩm văn học truyền thống) chưa giải quyết sâu sắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực trạng giáo viên dừng lại ở quy mô mẫu 26 giáo viên tại 3 quận (Quận 1, Quận 10, Quận Bình Tân) thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thực nghiệm sư phạm mới được triển khai tại một trường Trung học phổ thông (Trường THPT Nguyễn Khuyến, Quận 10), chưa thực hiện đối chứng trên nhiều nhóm đối tượng học sinh có điều kiện tiếp cận nghệ thuật khác nhau.

Hướng mở của đề tài là tiếp tục mở rộng địa bàn thực nghiệm trên diện rộng tại nhiều tỉnh thành; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu các tiêu chí đánh giá năng lực cảm thụ nghệ thuật tích hợp trong bài viết nghị luận cho từng loại hình nghệ thuật đặc thù.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Giáo viên Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Cung cấp quy trình dạy viết theo tiến trình, hệ thống phiếu học tập và bảng kiểm đánh giá cụ thể để áp dụng trực tiếp vào các bài dạy viết văn bản nghị luận lớp 11 theo Chương trình 2018.
  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học môn Ngữ văn: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, cách thiết kế công cụ điều tra thực tiễn và cách tiếp cận các thể loại văn bản đa phương thức trong nhà trường phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận phân loại tác phẩm nghệ thuật theo tiêu chí nào để định hướng học sinh viết bài? Tác giả dựa trên quan điểm phân loại theo giác quan của Maurice Nédoncelle để chia tác phẩm nghệ thuật thành 3 nhóm: nghệ thuật thị giác (kiến trúc, hội họa, điêu khắc), nghệ thuật thính giác (âm nhạc, văn học), và nghệ thuật thị giác kết hợp thính giác (sân khấu, điện ảnh). Việc phân loại này giúp học sinh xác định đúng ngôn ngữ nghệ thuật và tiêu chí đánh giá đặc thù cho từng đối tượng khi viết bài.

Theo kết quả khảo sát, nguyên nhân hàng đầu khiến học sinh gặp khó khăn trong giai đoạn tìm ý là gì? Khảo sát 26 giáo viên chỉ ra rằng 69,2% giáo viên nhận định học sinh không có thói quen tìm ý và lập dàn ý trước khi viết. Đồng thời, 57,7% giáo viên cho biết thời lượng trên lớp không đủ để rèn luyện kĩ năng này, dẫn đến việc học sinh thường bỏ qua khâu lập dàn ý khi làm bài.

Sự khác biệt giữa ba bộ sách giáo khoa lớp 11 trong việc hướng dẫn kiểu bài này là gì? Bộ Cánh Diều cung cấp văn bản mẫu về vở kịch nhưng câu hỏi tìm ý còn chung chung; bộ Kết nối tri thức với cuộc sống thiết kế hệ thống câu hỏi tìm ý chi tiết theo từng loại hình nghệ thuật và sự tiếp nhận của công chúng; bộ Chân trời sáng tạo phân bổ kiểu bài trải dài qua các chủ điểm ở cả hai học kì (bài hát, bộ phim, bức tranh/pho tượng).

Quy trình phát triển ý tưởng do tác giả đề xuất gồm những bước nào? Quy trình gồm 4 hoạt động liên hoàn: (1) Hoạt động phác thảo ý tưởng; (2) Hoạt động thu thập thông tin; (3) Hoạt động sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng; (4) Hoạt động điều chỉnh ý tưởng.

Khóa luận đã thiết kế những công cụ sư phạm cụ thể nào để hỗ trợ học sinh? Tác giả đã thiết kế hệ thống 4 công cụ thực hành: Phiếu thu thập thông tin cho bài viết, Phiếu học tập hướng dẫn sắp xếp và cụ thể hóa ý tưởng, Phiếu học tập hướng dẫn điều chỉnh ý tưởng và Bảng kiểm đánh giá bài viết nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả La Ngọc Kim Châu đã giải quyết một yêu cầu mới và cấp thiết trong dạy học kĩ năng viết theo Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lí luận quy trình viết với khảo sát thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã xây dựng quy trình 4 hoạt động phát triển ý tưởng kèm theo hệ thống phiếu học tập có tính ứng dụng cao. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Nguyễn Khuyến khẳng định tính khả thi của các giải pháp, góp phần hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy viết và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh lớp 11.