Mở đầu; Nội dung và Kết luận. Phần Nội dung bao gồm 3 chƣơng: 7 c Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề dạy học tạo lập văn bản thuyết minh ở lớp 10 theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu đƣợc xây dựng dựa trên các nội dung: (1) NL và của NL TL VB, (2) VBTM và cấu trúc của NL TL VBTM, (3) DH NV theo ĐHPTNL HS. Còn cơ sở thực tiễn của vấn đề đƣợc xây dựng thông qua việc khảo sát thực tế DH nhƣ: CT học, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS.
Tất cả các vấn đề trên sẽ là cơ sở vững chắc cho việc đề xuất các biện pháp DH TL VBTM cho HS lớp 10 theo ĐHPTNL. Chƣơng 2: Tổ chức dạy học tạo lập văn bản thuyết minh ở lớp 10 theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh. Dựa vào cơ sở lí luận văn thực tiễn đã khảo sát ở Chƣơng 1, ở Chƣơng 2, chúng tôi tiến hành đề xuất những yêu cầu có tính nguyên tắc của việc DH TL VBTM ở lớp 10 theo ĐHPTNL HS; đồng thời đề xuất các phƣơng án, kế hoạch DH để phát triển NL TL VBTM cho HS lớp 10. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
Để góp phần khẳng định những đề xuất của tác giả ở Chƣơng 2 có cơ sở khoa học đáng tin cậy và có tính ứng dụng cao, chúng tôi tiến hành hoạt động TN ở Chƣơng 3 của luận văn trên đối tƣợng là học lớp 10 THPT. Nội dung của Chƣơng 3 bao gồm: (1) Mục đích và yêu cầu của hoạt động TN, (2) Đối tƣợng, thời gian, địa bàn TN, (3) Nội dung, phƣơng pháp, qui trình TN, (4) Đánh giá kết quả sau TN và kết luận. 8 c NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH Ở LỚP 10 THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Năng lực và năng lực tạo lập văn bản 1.
Năng lực Trong tiếng Anh, NL là từ có thể đƣợc dùng với những thuật ngữ nhƣ ability, competency, capability, capacity,… Trong tiếng Việt, NL có nghĩa tƣơng đối gần với các từ khác nhƣ: kĩ năng, khả năng, tiềm năng,… tùy vào từng tình huống sử dụng riêng biệt. Tựu chung lại thì có thể hiểu NL theo các nghĩa sau đây: Theo “Từ điển tiếng Việt” của GS. Hoàng Phê, “NL đƣợc hiểu theo hai nét nghĩa”: (1) “Khả năng, điều kiện chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” và (2) “Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con ngƣời có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lƣợng cao”. [28;848] Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” (tập III) thì “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó”.
[25;41] Theo Phạm Minh Chánh trong bài viết “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS”: “NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”. Hay “NL là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động”. [14;21] Trong cuốn Tài liệu chuyên văn, tập 2: “NL là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực hiện một công việc cụ thể. Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri 9 c thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành.
Nói một cách khái quát, NL là một trạng thái hay một phẩm chất, một khả năng tƣơng xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể”. [47;12] Trong tài liệu “Xây dựng CT GDPT theo hướng tiếp cận năng lực”, Đỗ Ngọc Thống quan niệm: “NL có thể định nghĩa nhƣ là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn nhân lực. Những khả năng này đƣợc sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học đƣợc từ nhà trƣờng cũng nhƣ kinh nghiệm của HS, những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn nhƣ bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”. [48;11] Trong “Chương trình Giáo dục phổ thông” của Bang Quecbe (Canada), “NL là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng và thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.
[dẫn theo 48;158] Theo nghiên cứu của chúng tôi, “NL là hững khả năng, kĩ xảo học đƣợc hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phƣơng tiện, biện pháp, cách thức phù hợp.” Dù định nghĩa nhƣ thế nào về NL thì bản thân khái niệm đã bao hàm đầy đủ các thành tố trong nó, đó là tri thức (tức là NL hiểu), kĩ năng (tức là NL làm) và thái độ (tức là NL ứng xử, mà theo nhà nghiên cứu Lƣơng Việt Thái trong công trình nghiên cứu cấp Bộ của mình (2011) đã gọi đó là “những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng trong một cơ cấu thống nhất và theo định hƣớng rõ ràng”). Qua đó, chúng tôi khái quát lại cấu trúc của NL bằng mô hình sau: Tri thức Kĩ năng Năng lực Thái độ Hình 1. Cấu trúc năng lực 10 c Về phân loại, trong chuyên luận “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông” của Đỗ Ngọc Thống, Bùi Minh Đức, Phạm Thị Thu Hiền thì “việc phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp, kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Nhìn vào CT thiết kế theo NL của các nƣớc có thể thấy hai loại chính: NL chung (general competence) và NL cụ thể, chuyên biệt (specific competence).
NL chung là NL cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. NL này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nƣớc gọi là NL xuyên CT (Cross-curricular competencies), NL nền tảng (socles de compétences), NL cơ sở (basic competences), NL cốt lõi (core skills),… NL cụ thể, chuyên biệt là NL riêng đƣợc hình thành và phát triển trên cơ sở các NL chung theo định hƣớng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trƣờng đặc thù hay do một lĩnh vực hay một môn học nào đó; vì thế mà CT Québec gọi là NL môn học cụ thể (Subject- specific competencies) để phân biệt với NL xuyên CT, NL chung.” Tháng 12 năm 2018, Bộ GD&DT đã công bố CT giáo dục phổ thông tổng thể và đƣa ra 6 phẩm chất chủ yếu, 10 NL cốt lõi (tức là các NL chung) cần hình thành, phát triển ở HS. Đây cũng là mục tiêu cụ thể của CT, là “chân dung” ngƣời HS mới, “bao gồm: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ và NL thể chất”.
Đó là những NL mà bất cứ công dần toàn cầu nào cũng cần để có thể sống và làm việc. Các NL cụ thể, chuyên biệt đƣợc hình thành trên nền tảng các NL chung thông qua một môn học trong chƣơng trình hoặc một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Chẳng hạn nhƣ môn NV trong nhà trƣờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành, phát triển các NL cụ thể, chuyên biệt nhƣ: NL ngôn ngữ (bao gồm NL làm chủ ngôn ngữ, NL sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, NL sử dụng ngôn ngữ để TL VB), NL thƣởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ. Tóm lại, “NL là những khả năng, điều kiện để có thể hoàn thành một công việc hoặc tham gia một hoạt động nào đó với kết quả tốt; bao gồm các thành tố: tri thức, kĩ năng và thái độ.
NL có hai loại: NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt. NL chung giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn 11 c và phức tạp, góp phần tạo nên những kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng. NL cụ thể, chuyên biệt cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số ngƣời hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định. Năng lực tạo lập văn bản Ở nhà trƣờng phổ thông, VB (text) là một khái niệm trọng yếu, bởi nó là đối tƣợng của hoạt động DH đọc hiểu (tức là giải mãi VB) và cũng là đối tƣợng của hoạt động DH làm văn (tức là TL VB).
Theo “Từ điển tiếng Việt” của GS. Hoàng Phê, VB có hai nghĩa: (1) “Bản viết hoặc in mang nội dung nhất định, thƣờng để lƣu lại” và (2) “Chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn”. [38;1406] “Từ điển Bách khoa Việt Nam” (tập IV) đã định nghĩa về VB nhƣ sau: “Văn bản là một chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn văn đƣợc cấu tạo theo quy tắc của một ngôn ngữ, tạo nên thông báo có tính hệ thống.” [25;409] Về cơ bản, “VB (text) đƣợc hiểu trên hai bình diện: nghĩa rộng và nghĩa hẹp”. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống trong tài liệu Làm văn, “theo nghĩa rộng, VB có thể đƣợc hiểu là bất cứ chuỗi kí tự nào có khả năng tiềm tàng có thể đọc ra nghĩa đƣợc, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữ tạo ra hay không.
Do đó, một nghi thức, một điệu múa, một điệu múa, một nét mặt, một bài thơ… đều là VB.” Điều này đƣợc hiểu đúng theo khái niệm về VB trong “Từ điển Thuật ngữ văn học” nêu ra: “bất cứ đối tƣợng nào đƣợc phân tích hoặc giải nghĩa đều là văn bản”. Theo cách hiểu này, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, VB chính là ngôn bản. Đó là một chuỗi câu. Chuỗi câu đó có thể nói bằng miệng và có thể ghi lại bằng chữ viết.
Và vì thế có VB nói và VB viết.