Mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan gần gũi với vấn đề chính sẽ nêu. Tuỳ nội dung vấn đề chính mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn, hoặc một câu chuyện kể. - Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài, tức là luận đề. Vấn đề chính này có thể đã chỉ rõ, có thể người viết tự rút ra, tự khái quát.
Đối với phân tích bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà người đọc cảm nhận được. - Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày. Phần này đề bài thường đã xác định sẵn. Người viết chỉ việc giới thiệu hoặc ghi lại đoạn trích, câu trích ở đầu bài.
Tóm lại, một mở bài đúng nhất thiết phải nêu đúng được vấn đề và phạm vi nghị luận; mở bài đó phải bảo đảm tính khái quát, không có sai sót về kiến thức. Về hình thức diễn đạt, phần mở bài phải trình bày có ý tứ rõ ràng, đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa. Tác giả cuốn Muốn viết được bài văn hay đã đưa ra mô hình của một mở bài: 1. Dẫn dắt Mở bài = 2.
Giới hạn phạm vi vấn đề Ví dụ: Đề bài: Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Mở bài: "Trong văn học sau cách mạng tháng Tám đã có không ít tác phẩm viết về con người không may rơi vào tay giặc, trong nhà lao, trước cái chết vẫn hiên ngang bất khuất. Thật thú vị là trước cách mạng tháng Tám, nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công một hình tượng tuyệt vời về con người khí phách, tài hoa trong nhà tù chờ ngày lĩnh án chém, ông Huấn Cao, nhân vật chính của tác phẩm Chữ người tử tù. [43, 62] Phần mở bài trên người viết đảm bảo đầy đủ nội dung của một phần mở bài: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ - Phần dẫn dắt vấn đề: nêu lên hình tượng người anh hùng rơi vào tay giặc mà vẫn hiên ngang.
- Phần nêu vấn đề: hình tượng nhân vật Huấn Cao mang khí phách hiên ngang và tài hoa. - Giới hạn vấn đề: tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Phần mở bài phải hay Khi đã đạt yêu cầu là mở bài đúng chúng tôi còn muốn bàn đến một mở bài hay. Một mở bài hay là một mở bài đưa ra vấn đề bất ngờ, khiến cho người ta có hứng thú tham gia vào việc giải quyết vấn đề đó.
Muốn mở bài cho hay và thành thạo cần luyện tập bằng cách cùng một đề văn nhưng suy nghĩ và viết nhiều mở bài khác nhau. Các mở bài khác nhau chủ yếu ở phần dẫn dắt tạo nên. Như vậy, người viết khi xác định được ba phần của phần mở bài, giữ lại hai phần sau (phần nêu vấn đề và phần giới hạn) và khéo léo thay đổi phần dẫn dắt vấn đề thì sẽ có mở bài hay. "Một mở bài hay cần tránh: 1.
Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi mới gắn được vào việc nêu vấn đề. Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu. Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lại lặp lại những điều đã nói ở mở bài. Một mở bài hay cần phải: 1.
Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới hạn vấn đề một vài câu. Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì? trong phạm vi nội dung tư liệu nào? Thao tác chính vận dụng ở đây là gì? 3. Độc đáo: mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ viết. Muốn thế phải có cách nêu vấn đề khác lạ.
Để tạo nên sự khác lạ "độc đáo" cần suy nghĩ dẫn dắt: giữa câu dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạo được sự bất ngờ. Tự nhiên: viết văn nói chung cần giản dị, tự nhiên. Mở bài và nhất là câu đầu chi phối giọng văn của toàn bài. Vì thế vào bài cần độc đáo, khác lạ nhưng phải tự nhiên.
Tránh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ làm văn một cách vụng về, gượng ép gây cho người đọc cảm giác khó chịu bởi sự giả tạo". Và trong lửa của thơ anh, có biết bao thương yêu dịu dàng đối với đất nước quê hương và những con người của đất nước quê hương. Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc". (Báo Văn nghệ, số 50 (2239), ra ngày 14 - 12 - 2002) Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về nhận định trên đây? Hãy liên hệ với một số bài thơ của Tố Hữu để làm sáng tỏ vấn đề.
Mở bài: "Xin tạm biệt cuộc đời yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro Thơ gửi bạn đời, tro bón đất Sống là cho và chết cũng là cho". Bài thơ nhỏ ấy đã khép lại một đời thơ Tố Hữu. Hơn nửa thế kỷ cầm bút, tiếng thơ Tố Hữu đã hoá thân vào hồn thiêng sông núi. Tôi đã nghe những em bé líu lo đọc thơ anh trên đường đi học về, tôi đã nghe những anh công nhân nhắc đến thơ anh với tất cả "tình thương mến", tôi cũng đã nghe những con người từng đi qua bão táp chiến tranh nhắc đến thơ anh trong niềm xúc động sâu xa… Tiếng thơ Tố Hữu là tiếng thơ của hôm qua, hôm nay và của cả ngay mai.
Ngày 9 - 12 - 2002, con người mà cả cuộc đời "sống là cho và chết cũng là cho" đã ra đi trong niềm tiếc thương của đất nước. Chỉ vài ngày sau khi Tố Hữu mất, trên báo Văn nghệ, số 50 (2239) Nguyễn Đình Thi đã nhận định về thơ anh: "Trọn đời, Tố Hữu là một chiến sỹ cách mạng làm thơ và là nhà thơ của cách mạng ( … ). Và trong lửa của thơ anh, có biết bao thương yêu dịu dàng đối với đất nước quê hương và những con người của đất nước quê hương. Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc".
Nhận định đó là nén nhang thành kính viếng người con yêu quý của giống nòi - Tố Hữu!". [32, 236] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Mở bài trên không chỉ đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về mặt nội dung và hình thức của một mở bài, mà còn tạo sự thu hút, hấp dẫn đối với người đọc bởi chính cảm xúc của người viết. Đó được coi là một mở bài hay. Các phƣơng pháp mở bài trong bài văn nghị luận Mở bài có nhiều cách khác nhau nhưng cụ thể quy thành hai cách: Mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp.
Tuỳ thuộc vào nội dung, mục đích khuôn khổ bài viết, phương thức trình bày và phong cách diễn đạt mà người viết có sự lựa chọn cách viết cho phù hợp. Mở bài trực tiếp (trực khởi) Mở bài trực tiếp là cách mở bài giới thiệu ngay vào vấn đề cần nghị luận. Ưu điểm của cách mở bài trực tiếp là: đi thẳng ngay vào bài nên tránh được sự lan man, xa đề hoặc lạc đề; dễ vận dụng đối với các học sinh có kĩ năng lập luận yếu; tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết. Tuy nhiên, cách mở bài này ít tạo được không khí lôi cuốn cho người đọc.
Ví dụ: Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Mở bài: Chiều tối là một bài thơ trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Bài thơ được sáng tác ngay trên đường bị giải đi từ nhà ngục Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào lúc chiều tàn. Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ đã ghi lại bức tranh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người ở vùng rừng núi một cách sinh động.
Phân tích: - Vấn đề nghị luận : bức tranh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người ở vùng rừng núi. - Cách thức nghị luận: phân tích - Phạm vi tư liệu: bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh Như vậy, đặt vấn đề trực tiếp dễ làm nhưng không hấp dẫn người đọc. Vì mở bài trực tiếp thường không có phần dẫn dắt mà chỉ có hai phần cơ bản tạo nên phần mở bài là phần nêu vấn đề và giới hạn vấn đề. Phần lớn các bài văn viết theo kiểu mở bài gián tiếp.
Mở bài gián tiếp (lung khởi) Mở bài gián tiếp là dẫn dắt vào đề bằng cách nêu các ý có liên quan đến vấn đề cần nghị luận để kích thích trí tò mò, gợi sự chú ý của người đọc rồi từ đó mới nêu lên vấn đề chính. Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn, người ta thường mở bài theo kiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ gián tiếp. Có nhiều cách vào bài theo kiểu gián tiếp này, nhưng tựu chung có bốn cách cơ bản: Diễn dịch, quy nạp, tương liên, tương phản. * Mở bài theo kiểu diễn dịch (suy diễn) Mở bài theo kiểu diễn dịch tức là nêu những ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi thu hẹp lại dần, sau cùng bắt vào vấn đề ấy.
Ví dụ: Đề bài: Bình luận ý kiến sau: "Nói đến nghệ thuật Truyện Kiều là nói đến nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới có thật". Mở bài: "(1) Nói đến nghệ thuật Truyện Kiều là nói đến nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới có thật. (2) Trong Truyện Kiều, nhiều con người, nhiều cảnh vật, nhiều tâm trạng được Nguyễn Du thể hiện một cách thành công. (3) Đó là thân hình đồ sộ của Tú Bà; dáng dấp hào hoa, phong nhã của Kim Trọng; cái lẩm nhẩm gật đầu ám muội của Sở Khanh; cái cười sảng khoái của Từ Hải; bộ mặt đen sì ngơ ngẩn vì tình của Hồ Tôn Hiến, hay sự tinh tế của ánh trăng đến những rung cảm sâu thẳm trong lòng người đều được Nguyễn Du thể hiện chính xác".
[37, 160] Phân tích: Mở bài gồm ba câu trình bày theo kiểu diễn dịch: - Câu (1): Tác giả nêu nhận định khái quát về nghệ thuật sáng tạo thế giới có thật trong Truyện Kiều. - Câu (2): Tác giả thu hẹp nhận định về nghệ thuật sáng tạo thế giới có thật của Nguyễn Du ở khả năng miêu tả con người, cảnh vật. - Câu (3): Từ nhận định khả năng miêu tả con người ở câu (2), người viết giới thiệu một hệ thống nhân vật điển hình trong Truyện Kiều.