Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA TIỀN LƯƠNG 1.1 Khái niệm Tiền lương là 1 phạm trù KTXH, xuất hiện đồng thời với các quan hệ thuê và sử dụng lao động. Đây là loại quan hệ mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng: Người có SLĐ, lại không thể tự tổ chức quá trình lao động cho mình, để biến quyền sở hữu trực tiếp đó thành vật phẩm tiêu dùng, để duy trì cuộc sống. Ở phía khác, người có nhu cầu sử dụng SLĐ, nhưng không được quyền sở hữu NLĐ (do NLĐ được luật pháp bảo hộ quyền tự do về thân thể). Do vậy, đã hình thành quan hệ mua – bán quyền sử dụng SLĐ, theo những mục tiêu lợi ích mà mỗi bên tự đặt ra.
Người sở hữu SLĐ, bán quyền sử dụng SLĐ của mình cho người cần SLĐ. Và người có nhu cầu sử dụng SLĐ phải trả chi phí cho việc sử dụng. Tiền lương chính là khoản chi phí đó, là hệ quả tất yếu của sự ngã giá về quyền sử dụng SLĐ cho mục tiêu của SXKD. Tất nhiên, tiền lương không phải bao trùm tất cả mọi sự ngã giá trong việc mua – bán này, nhưng nó là điều khoản quan trọng nhất, quyết định nhất, mà nếu như trong các thoả thuận khi mua và bán (cho thuê và đi thuê) SLĐ, tiền lương không nhất trí được, thì mọi thoả thuận khác đều trở nên vô nghĩa.
Điều này bắt nguồn từ động cơ, mục đích của hành vi mua bán SLĐ, giữa người mua và người bán, giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng SLĐ. Người bán SLĐ không phải trực tiếp vì họ cần phải lao động, cần phải thực hành cái ý nghĩa chính trị - xã hội của hoạt động lao động, mà trực tiếp vì, khi tiến hành những hoạt động lao động đó cho người mua SLĐ của họ, thì họ sẽ được nhận tiền trả cho những giờ lao động của mình dưới hình thức tiền lương, tiền 19 công. Thế là, dù xét dưới giác độ nào, tiền công, tiền lương luôn là giá của những giờ lao động mà người bán SLĐ phải thực hiện, theo yêu cầu của người thuê (mua) SLĐ. Mục đích hành vi bán SLĐ là để nhận tiền trả công mà không cần biết ảnh hưởng từ những hoạt động lao động ấy đối với XH, đối với cộng đồng ra sao.
Hay nói cách khác, động cơ trực tiếp của việc cung ứng SLĐ không phải vì bản thân nội dung hoạt động lao động mà người cung ứng phải tiến hành, mà vì số tiền tương ứng với số thời gian làm việc mà mỗi NLĐ đã thực hiện. Nếu loại trừ các nhân tố khác, ít nhiều có liên quan đến việc thuê và cho thuê SLĐ, nhân tố tiền lương là tiền đề và cũng là mục đích cuối cùng của việc cung ứng SLĐ; Tiền lương càng cao, càng lôi cuốn và tạo ra lực hấp dẫn mạnh mẽ NLĐ sẵn sàng làm việc cho người có khả năng trả mức lương cao đó. Hơn nữa, trong xã hội có sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người có SLĐ đã bị tách khỏi những điều kiện cần thiết để sử dụng SLĐ của mình và cho mình, thì, để duy trì cuộc sống của họ và gia đình, họ phải bán cái mà họ sở hữu (tức SLĐ). Tiền lương, tiền công là kết quả của hành vi cung ứng đó, là phần nhận về của NLĐ, sau khi đã sẵn sàng nhượng quyền sử dụng SLĐ cho nhà SX.
Ở một phía khác, phía những người sản xuất, động cơ thuê, mua SLĐ, lại không phải vì muốn giúp NLĐ có việc làm, mà vì mục tiêu lợi ích sẽ đạt được từ SXKD mang lại. Không có nhà kinh doanh nào lại không muốn đồng vốn của họ sinh lời; không có nhà sản xuất nào, khi thuê (mua) các yếu tố đầu vào (trong đó trước hết là SLĐ) lại không muốn các yếu tố SX đó phát sinh một loại công năng đặc biệt, đó là, tạo được khối lượng giá trị gia tăng nhiều hơn phần chi phí đã bỏ ra cho việc thuê (mua) các yếu tố đầu vào đó. Trong các sách giáo khoa kinh điển, đã có nhiều hướng tiếp cận về khái niệm tiền lương, tiền công. Đồng thời nhận thức về tiền lương lại tuỳ thuộc căn bản vào cơ chế quản lý hiện hành.
Chẳng hạn, trong nền kinh tế KHH tập 20 trung dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và kinh tế nhà nước chiếm ưu thế tuyệt đối, hoạt động quản lý lao động và tiền lương về cơ bản bị chi phối bởi tính KHH của cơ chế quản lý. Trong mô hình ấy, tiền lương được quan niệm “là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức, dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động ”[45]. Khái niệm này hàm nghĩa, tiền công, tiền lương được thiết kế trước khi tiến hành các hoạt động SXKD, được dự kiến trong kế hoạch của Nhà nước.
Và “ Vì không coi SLĐ là hàng hoá, nên tiền lương không phải là tiền trả theo đúng giá trị của SLĐ, không phải là ngang giá của SLĐ theo quan hệ cung, cầu. Do vậy, những năm tồn tại mô hình kinh tế mệnh lệnh, đã phổ biến hiện tượng phân phối theo chủ nghĩa bình quân. Thị trường SLĐ, về danh nghĩa, không tồn tại trong nền KTQD. Các quan hệ thuê mướn lao động dù manh nha ở một số địa phương, khu vực, nhưng cũng chưa thể nói rằng, sức lao động được coi là hàng hoá ” [30].
Chính điều đó đã làm mất đi vai trò động lực, vai trò khuyến khích đối với lao động, vốn dĩ là bản chất của yếu tố tiền lương, tiền công. Đồng thời tiền lương, tiền công không còn là nguồn để khơi dậy NSLĐ của mỗi thành viên cũng như của toàn xã hội. Trong nền KTTT, SLĐ được coi là hàng hoá “Giá cả SLĐ biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hoá là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hoá là lợi nhuận” [9]. Điều đó làm thay đổi căn bản những tiền đề của cơ chế quản lý và điều hành nền kinh tế, khái niệm, bản chất, vai trò của tiền lương đã có sự biến đổi sâu sắc.
Dưới giác độ hạch toán chi phí SXKD, tiền lương là một bộ phận trong tổng phí mà chủ DN phải trả cho NLĐ theo số lượng thời gian và chất lượng lao động mà NLĐ đã cung 21 ứng. Với nhận thức như vậy, chi phí về tiền lương cũng bình đẳng như chi phí cho các yếu tố vật chất khác (như chi phí thuê nhà xưởng, mua thiết bị, chi phí trả vốn vay ngân hàng, chi phí mua nguyên vật liệu…). DN sẽ hạch toán phần trả lương dưới hình thức một khoản chi phí, vào giá thành của hàng hoá và dịch vụ, do đó tiền lương chỉ còn vai trò là chi phí của một đầu vào trong các đầu vào mà DN phải thuê, mua. Vì có sự gộp chung về tính chất của các loại chi phí như vậy nên người ta sẽ khó chỉ ra được đâu là bản chất xã hội của tiền lương.
Vai trò sản sinh ra các giá trị gia tăng cho chủ DN cũng không có sự nhấn mạnh về lao động hay về bất kỳ một yếu tố đầu vào nào, vì tất cả đều là chi phí. Với quan niệm như trên, chủ DN được toàn quyền sử dụng yếu tố SLĐ như đã từng sử dụng các yếu tố vật chất khác, họ đều muốn những chi phí phải trả là thấp nhất và lợi ích có thể tạo ra lại là lớn nhất. “Lợi nhuận của SXKD, là một hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, tức phần giá trị dôi ra ngoài tiền công, do LĐ làm thuê tạo ra. Trong nền sản xuất xã hội có sự đối lập giữa chủ DN và người làm thuê, lợi nhuận biểu hiện mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế giữa chủ và giới thợ, biểu hiện quan hệ bóc lột và nô dịch lao động”[54].
Lợi nhuận và tiền lương có mối liên hệ mật thiết với nhau. “Tiền công và lợi nhuận tỷ lệ nghịch với nhau. Phần của tư bản tức là lợi nhuận, tăng lên theo tỷ lệ mà phần của lao động, tức là tiền công sụt xuống và ngược lại. Lợi nhuận tăng lên theo mức độ mà tiền công sụt xuống và giảm xuống theo mức độ tiền công tăng lên ”[10].
Ở khía cạnh khác, có thể nói: “Lợi nhuận tăng lên không phải vì tiền công đã sụt xuống, nhưng tiền công sụt xuống vì lợi nhuận tăng lên ” [10]. Dưới giác độ của kinh tế học, tiền lương được xem xét với phạm vi rộng hơn bao gồm cả tính chất kinh tế và tính chất xã hội. Kinh tế học cũng quan niệm tiền lương là một loại chi phí, nhưng là chi phí cho con người – yếu tố động nhất, có vai trò lớn nhất trong tất cả các yếu tố sản xuất mà DN sử dụng. 22 Theo họ, tính chất quan trọng của số tiền trả cho yếu tố SLĐ (tức tiền lương), phụ thuộc vào vai trò có tính quyết định của yếu tố SLĐ.
Con người không chỉ xác định mục tiêu của SXKD, thiết kế các quy trình sản xuất, mà còn trực tiếp sử dụng các yếu tố vật chất khác và điều hành toàn bộ guồng máy của SXKD. Vì vậy những chi phí để sử dụng nhân lực cần được phân tích và xem xét toàn diện, tùy thuộc vào vai trò của yếu tố SLĐ trong guồng máy SXKD đó. Nếu tiếp cận dưới giác độ luật pháp, tiền lương xác định quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ lao động. Bộ luật lao động của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, chương 6 Điều 55 ghi rõ: “Tiền lương của NLĐ do hai bên thỏa thuận trong HĐLĐ, chất lượng và hiệu quả công việc…” Rõ ràng tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của hợp đồng thuê, sử dụng LĐ giữa những người thuê LĐ và những người cung ứng SLĐ.
Luật pháp nhấn mạnh khía cạnh thỏa thuận ngang giá, dân chủ, giữa bên thuê và bên cho thuê. Người nhận lương và người trả lương đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau khi đã nhất trí ký vào các bản HĐLĐ.