CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG 1. Khái quát về tiền lương 1. Khái niệm tiền lương Trong thực tế, tùy theo cách tiếp cận, phương thức vận hành nền kinh tế và trình độ phát triển nền kinh tế, tùy vào mỗi quốc gia mà chúng ta có thể thấy các khái niệm về tiền lương khác nhau. Nhật Bản và Đài Loan cùng quan niệm, tiền lương là chỉ thù lao lao động mà người lao động nhận được do làm việc từ người sử dụng lao động.
7] Ở Pháp, sự trả công bao gồm tiền lương hay lương bổng và mọi nguồn lợi ích trực tiếp hay gián tiếp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động. 8] Tổ chức Lao động Thế giới (International Labour Organization, viết tắt là ILO) cho rằng “ Tiền lương là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế , thường được trả theo tháng hay nửa tháng. 8] Còn ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng quản lý của Nhà nước, Nhà nước Việt Nam đã nghiên cứu các khái niệm về tiền lương ở các nước phát triển, các tổ chức mà đưa ra khái niệm về tiền lương, khái niệm này thay đổi căn bản với thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phù hợp với nền kinh tế, xã hội: Tiền lương được hiểu là số tiền mà ngưởi sử dụng lao động (người mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động) theo giá trị sức lao động đã Nguyễn Thị Lâm - QTDNB - K11 Khoa QTKD Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng hao phí trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng lao động.
Khái niệm này được đưa vào Bộ Luật Lao động (gồm 1 chương 13 điều quy định về tiền lương). Điều 55 của Bộ Luật Lao động đã nêu ra: “ Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng, tác động và được trả công theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”. Qua nghiên cứu các khái niệm tiền lương, sinh viên thấy rằng: tiền lương là số tiền người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, số tiền thanh toán dựa trên số lượng và chất lượng lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình lao động. * Một số thuật ngữ cơ bản - Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động.
Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào năng xuất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, vào kinh nghiệm làm việc của người lao động. 26] Tiền lương thực tế: Là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương mà có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ. 27] Như vậy tiền lương thực tế phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa và giá cả các loại hàng hoá tiêu dùng và dịcn vụ cần thiết mà họ muốn mua. Mốiquan hệ của tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện ở công thức sau: ITLTT = Itldn/ Igc Trong đó: ITLTT : Chỉ số tiềnlương thực tế Itldn : Chỉ số tiềnlương danh nghĩa Igc: Chỉ số giá cả Nguyễn Thị Lâm - QTDNB - K11 Khoa QTKD Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng Trong xã hội, tiền lương thực tế là mục đích trực tiếp của người lao động hưởng lương, đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập tiền lương và đời sống.
- Tiền lương tối thiểu (mức lương tối thiểu) Mức lương tối thiểu là số tiền tệ được Nhà nước quy định để trả lương cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện bình thường của xã hội. 108] Mức lương tối thiểu là cơ sở để xây dựng các mức tiền lương khác hay là “lưới an toàn” cho toàn bộ người lao động hưởng lương. Tại điều 55 chương VI “Tiền lương” của Bộ Luật Lao động quy định: “ Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”, còn tại Điều 56 có nêu: “ Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng”. Mỗi một tổ chức cần xác định mức lương trả cho người lao động dựa trên mức lương tối thiểu, để đảm bảo cho đời sống của người lao động và theo đúng quy định của Pháp luật.
- Tiền lương cơ bản Tiền lương cơ bản là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu cơ bản về sinh học, xã hội học, về độ phức tạp và mức độ tiêu hao lao động trong những điều kiện trung bình của từng ngành nghề, công việc. Tiền lương cơ bản được sử dụng rộng rãi đối với những người làm việc ở các doanh nghiệp quốc doanh hoặc trong các khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam và được xác định qua hệ thống thang bảng lương của nhà nước. - Phụ cấp Phụ cấp là khoản tiền trả công lao động ngoài tiền lương cơ bản, bổ xung cho lương cơ bản, bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việc trong những điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản. Ở Việt Nam trong khu vực nhà nước có rất nhiều loại phụ cấp khác nhau như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp khu vực.
266] Nguyễn Thị Lâm - QTDNB - K11 Khoa QTKD Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng Phần lớn các tiền phụ cấp thường được tính trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của môi trường làm việc không thuận lợi đến sức khoẻ, sự thoải mái của người lao động tại nơi làm việc. Tiền phụ cấp có ý nghĩa kích thích người lao động thực hiện tốt công việc trong những điều kiện khó khăn phức tạp hơn bình thường. - Tiền thưởng Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ xung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. 410] Tiền thưởng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với người lao động trong quá trình làm việc có tác dụng rất tích cực để họ phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn qua đó năng cao năng xuất lao động chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian làm việc.
Bản chất của tiền lương Về mặt kinh tế: Tiền lương là kết quả thỏa thuận trao đổi hàng hóa sức lao động giữa người lao động cung cấp sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận được một khoản tiền lương từ người sử dụng lao động.Ta có thể khái quát mô hình trao đổi hàng hóa sức lao động như sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình trao đổi hàng hóa sức lao động Người lao động Người sử dụng lao động Các yếu tố của cung sức Các yếu tố cam kết từ lao động từ người lao người sử dụng trả lương động: cho lao động: - Thời gian đã cung - Tiền lương cơ bản - Năng suất lao - Phụ cấp động - Bảo hiểm xã hội - Tinh thần, động cơ - Thưởng làm việc - Cơ hội thăng tiến - Trình độ chuyên môn – kỹ thuật Nguyễn Thị Lâm - QTDNB - K11 Khoa QTKD Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng Về mặt xã hội: Tiền lương là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi thành viên gia đình, cũng như bảo hiểm lúc hết tuổi lao động. Ngoài ra, tiền lương còn có ý nghĩa là khoản đầu tư cho người lao động không ngừng phát triển về trí lực, thể lực, thẩm mỹ và đạo đức. Như vậy, đối với người lao động, tiền lương là bộ phận thu nhập từ quá trình lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Đối với doanh nghiệp, tiền lương là khoản chi phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm dịch vụ.
Phấn đấu nâng cao tiền lương trên cơ sở tăng năng suất lao động là mục đích của người lao động và doanh nghiệp. Mục đích này tạo động lực để phát triển doanh nghiệp và nâng cao NSLĐ, trình độ chuyên môn của người lao động. Các chức năng của tiền lương * Chức năng thước đo giá trị sức lao động Tiền lương là giá cả sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức lao động. Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương.
Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức tiền lương càng lớn. Những tiêu chuẩn để đánh giá việc làm là: - Tính chất kỹ thuật của việc làm. - Tính chất kinh tế của việc làm. - Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người lao động.
* Chức năng tái sản xuất sức lao động Trong quá trình lao động, sức lao động bị hao mòn dần cùng quá trình tạo ra sản phẩm, con người cần bù đắp lại đã bị hao phí. Hơn nữa, để duy trì và phát triển sức lao động, người lao động còn phải học tập, tích lũy, rèn luyện kỹ năng, phải sinh con, phải nuôi dưỡng chúng. Cho nên tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động phải gồm cả tư liệu sinh hoạt cho họ và con cái họ. Như vây, chức năng cơ bản của tiền lương là phải duy trì và phải phát triển được sức lao động cho người lao động.
Nguyễn Thị Lâm - QTDNB - K11 Khoa QTKD Khóa luận tốt nghiệp 9 Học viện Ngân hàng * Chức năng kích thích Kích thích là hình thức tạo tác động, tạo ra động lực trong lao động. Tiền lương là bộ phận thu nhập của chính người lao động nhằm thỏa mãn phần lớn nhu cầu vật chất và tinh thần của người lao động.