Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Nhập khẩu Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu được hiểu là việc nhập hàng hóa, nguyên vật liệu từ các quốc gia khác trên thế giới về Việt Nam để tiêu thụ hoặc đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận. Hoạt động nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên nguyên tắc thực hiện trao đổi ngang giá trong một khoảng thời gian nhất định. Nhập khẩu không phải hoạt động buôn bán riêng lẻ mà là hệ thống có tổ chức, việc nhập khẩu của quốc gia phụ thuộc vào thu nhập và tỷ giá hối đoái.
Thu nhập bình quân của người dân nước đó tăng thì nhu cầu nhập khẩu lớn, tỷ giá hối đoái cao thì giá hàng nhập khẩu cao hơn. Theo quy định của Khoản 1 Điều 28 Luật thương mại 2005 định nghĩa nhập khẩu hàng hóa có thể hiểu là hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm ở khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam. Vai trò của nhập khẩu Ngày nay, trước sự giao thoa, hội nhập nền kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới, thị trường thương mại vô cùng sôi động, các nước không thể cô lập một mình trước sự giao thoa đó. Với sự phát triển ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn.
Với lượng sản xuất trong nước lớn sẽ không có quốc gia nào có thể tự sản tự tiêu hoàn toàn. Hơn nữa, bản thân các nước cũng không thể đáp ứng đầy đủ tất cả thì việc nhập khẩu hàng hóa từ các quốc gia bên ngoài là rất cần thiết. Với những quốc gia phát triển, nguồn tài nguyên của quốc gia đó được khai thác tốt, kim ngạch xuất khẩu cao hơn, còn với những quốc gia kém phát triển hơn thì hàng hóa thiếu thốn hơn, kim ngạch nhập khẩu sẽ cao hơn. Hoạt động nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng thể hiện qua 06 vai trò sau đây: - Tránh tình trạng khan hiếm bất ổn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Quốc gia cần nhập khẩu từ những nguồn bên ngoài nhằm đảm bảo cân đối kinh tế, phát triển ổn định bền vững khi mà tự quốc gia đó không thể sản xuất hoặc sản xuất không đủ để cung cấp. - Việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài kết hợp hàng hóa có sẵn trong nước giúp thị trường tiêu dùng trở nên đa dạng hóa và nhộn nhịp hơn. Khả năng tiêu dùng và mức sống 2 của người dân khi người dân có nhiều sự lựa chọn từ chủng loại hóa, nguồn gốc xuất xứ, giá cả lẫn chất lượng. - Tình trạng độc quyền, tự cung tự cấp sẽ bị xóa bỏ, đảm bảo quyền lợi cho người dân.
Nhập khẩu hàng hóa tại nên một thị trường năng động, tiến tới hợp tác rộng rãi giữa các quốc gia, là cơ hội để phát huy lợi thế so sánh công bằng. - Nhập khẩu đóng vai trò giúp phát triển doanh nghiệp trong nước. Bởi khi có hàng ngoại nhập cùng với các mặt hàng trong nước, người dân có thêm nhiều chọn lựa, tạo nên sự cạnh tranh lớn, thì buộc các doanh nghiệp phải thay đổi với tình hình thực tế, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng. - Thông qua việc nhập khẩu, quá trình chuyển giao công nghệ sẽ giúp kinh tế quốc gia không ngừng cải thiện.
Việc nhập khẩu giúp các nước khác kế thừa nhanh chóng những cải tiến mới, tại cơ hội học hỏi lẫn nhau tạo nên sự cân bằng về trình độ sản xuất giữa các quốc gia, không phải mất giá nhiều chi phí và thời gian. - Với hình thức nhập khẩu sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm cũng như uy tín của quốc gia. Khái niệm chung về hoạt động giao nhận hàng hóa bằng đường biển Khái niệm ❖ Khái niệm về giao nhận Giao nhận hàng hóa là lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế, xã hội ngày nay. Hoạt động giao nhận không chỉ tạo động lực phát triển mà còn đảm bảo đầu ra cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp và nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế.
- Theo “Quy tắc mẫu của Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA (Federation Internationale de Associations de Transitaries et Assimilaimes) về hoạt động giao nhận, hoạt động giao nhận được định nghĩa là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. - Theo “Luật Thương Mại Việt Nam 2005 - điều 163” thì hoạt động giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm hoạt động giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bài, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Như vậy, thông qua những khái niệm trên có thể định nghĩa hoạt động giao nhận là hành vi thương mại, theo đó người làm hoạt động giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người Thư viện ĐH Thăng Long 3 gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để vận chuyển hàng hóa đến người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. ❖ Khái niệm về người giao nhận Theo “Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA” thì “ Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân người giao nhận không phải là người vận tải, người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan,.” Theo “Luật Thương mại Việt Nam 2005” người làm hoạt động giao nhận là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoạt động giao nhận hàng hóa.
Theo Điều 3 của Nghị định số 140/2007/NĐ-CP giải thích: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó”. Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện hoạt động giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh hoạt động giao nhận. Giao nhận hàng hóa trong ngoại thương cũng có nhiều hình thức phân theo khu vực hay tuyến. Vì vậy, những người kinh doanh hoạt động giao nhận thường thiết kế các sản phẩm dịch vụ của mình theo các tuyến và khu vực vận chuyển.
Việc hình thành thị trường hoạt động giao nhận và các công ty kinh doanh và môi giới giao nhận vận tải sẽ tạo ra các cấp đại lý vận tải và thị trường hoạt động giao nhận. Vai trò Vai trò của hoạt động giao nhận và người giao nhận: Thông qua những khái niệm được nêu ở trên, rõ ràng có thể thấy hoạt động giao nhận cũng như người giao nhận hàng hóa đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xuất nhập khẩu, là mắt xích kết nối giữa bên mua và bên bán. Vai trò của giao nhận và người giao nhận hàng hóa trong thực tiễn có thể kể tới: - Tiết kiệm thời gian, giảm thiểu chi phí trong kinh doanh, sản xuất Thay vì tự làm hết các công việc, thủ tục xuất/nhập khẩu hàng ra nước ngoài , việc các doanh nghiệp thuê một bên thứ 3 tức người giao nhận hàng hóa (Forwarder) sẽ tiết kiệm được không ít thời gian, công sức lẫn tiền bạc. Bởi người giao nhận hàng hóa có sẵn 4 chuyên môn và công cụ, phương tiện để vận chuyển hàng hóa tới tay người mua một cách chuyên nghiệp, hiểu quả.
Qua đó, sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện để tập trung hơn vào đầu tư sản xuất. Khi chi phí lưu thông hàng hóa và vận chuyển càng cao sẽ khiến giá thành bán ra của một sản phẩm cũng tăng lên theo. Song, với việc ngành giao nhận phát triển ngày một vượt bậc, đã giúp doanh nghiệp giảm thiểu được giá bán sản phẩm, qua đó, giúp đẩy nhanh được tốc độ lưu thông của hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa trên thị trường của doanh nghiệp. - Góp phần mở rộng thị trường Như đã nói, nhờ có người giao nhận và hoạt động giao nhận mà công việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa diễn ra thuận lợi hơn.
Từ đó, giúp các nhà sản xuất có điều kiện và cơ hội mở rộng thị trường. Thời gian đầu, khi hoạt động giao nhận còn chưa phát triển vượt bậc như ngày nay, mỗi nhà sản xuất chỉ có thể tập trung vào một vài thị trường nhất định, do chi phí vận chuyển quá lớn, nhất là vận chuyển hàng tới các khu vực xa xôi, chi phí cao dẫn tới giá thành hàng hóa cũng tăng theo, đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nhưng tình trạng này rõ ràng đã không còn tồn tại, hoặc tồn tại với con số rất nhỏ ở thời điểm hiện tại, nhờ có hoạt động giao nhận phát triển, hoạt động vận chuyển đưa hàng tới tay khách hàng diễn ra chuyên nghiệp hơn, giúp doanh nghiệp có cơ hội mở rộng phạm vi kinh doanh, không bị bó hẹp, hạn chế trong một khuôn khổ nào đó, mạng lưới hàng hóa thêm sâu và rộng trên toàn cầu. - Mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội Hoạt động giao nhận hàng hóa phát triển tạo điều kiện cho chính phủ có thêm nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giao lưu kinh tế, kết nối các hoạt động kinh tế trong nước và nước ngoài, cũng như các nước trong khu vực, đồng thời cơ sở hạ tầng vận tải cũng được chú trọng, đầu tư hơn.
Hơn hết, ngành giao nhận hàng hóa đã giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao động.