Luận văn thạc sỹ ngành quản lý kinh tế đề tài hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông lạng sơn

Luận văn thạc sỹ ngành quản lý kinh tế đề tài hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

107
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực

Chương 1 của luận văn tập trung vào cơ sở lý luậnthực tiễn về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Tác giả đã phân tích các khái niệm cơ bản về nguồn nhân lựcquản trị nhân lực, nhấn mạnh vai trò của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực được định nghĩa là tổng thể số lượng và chất lượng con người, bao gồm trí lực, thể lực và phẩm chất đạo đức. Quản trị nhân lực được hiểu là quá trình thu hút, sử dụng, đào tạo và phát triển nguồn lao động để đạt mục tiêu của tổ chức. Tác giả cũng đề cập đến các chức năng cơ bản của quản trị nhân lực, bao gồm thu hút, điều chỉnh và phối hợp.

1.1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực

Tác giả định nghĩa nguồn nhân lực là tổng thể con người với các tiêu chí về trí lực, thể lực và phẩm chất đạo đức. Nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định trong sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. Tác giả nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

1.2. Khái niệm và chức năng của quản trị nhân lực

Quản trị nhân lực được định nghĩa là quá trình thu hút, sử dụng, đào tạo và phát triển nguồn lao động. Tác giả phân tích các chức năng cơ bản của quản trị nhân lực, bao gồm thu hút, điều chỉnh và phối hợp. Quản trị nhân lực hiệu quả giúp doanh nghiệp tối ưu hóa năng suất lao động và đạt được mục tiêu kinh doanh.

II. Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn

Chương 2 phân tích thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn. Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê, phân tích so sánh để đánh giá hiệu quả công tác quản trị nhân lực trong giai đoạn 2012-2016. Kết quả cho thấy, mặc dù công ty đã đạt được một số thành tựu trong việc quản lý nhân sự, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như bộ máy quản lý cồng kềnh, chất lượng nhân lực chưa cao và thiếu tính năng động trong cơ chế thị trường.

2.1. Giới thiệu chung về công ty

Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn được thành lập từ năm 2009, hoạt động chính trong lĩnh vực quản lý và xây dựng các công trình giao thông. Công ty có 13 chi nhánh và quản lý hơn 1000 km đường. Tuy nhiên, bộ máy quản lý của công ty vẫn còn cồng kềnh và chưa tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

2.2. Phân tích thực trạng quản trị nhân lực

Tác giả đánh giá thực trạng quản trị nhân lực thông qua các tiêu chí như hiệu suất sử dụng lao động, năng suất lao động và cơ cấu nhân sự. Kết quả cho thấy, mặc dù công ty đã có những cải thiện nhất định, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như thiếu nhân lực chất lượng cao và chưa có chiến lược phát triển nhân sự dài hạn.

III. Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực

Chương 3 đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiện toàn bộ máy quản lý, đổi mới công tác hoạch định nhân lực và nâng cao chất lượng tuyển dụng. Các giải pháp cụ thể bao gồm đào tạo và phát triển nhân lực, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả làm việc.

3.1. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý

Tác giả đề xuất việc tinh giản bộ máy quản lý và sắp xếp nhân sự hợp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động. Điều này giúp công ty giảm chi phí quản lý và tăng năng suất lao động.

3.2. Đổi mới công tác hoạch định nhân lực

Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng chiến lược hoạch định nhân lực dài hạn, bao gồm dự báo nhu cầu nhân lực và xây dựng kế hoạch tuyển dụng phù hợp với mục tiêu phát triển của công ty.

01/03/2025
Luận văn thạc sỹ ngành quản lý kinh tế đề tài hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề con người là vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội của đất nước; coi con người là linh hồn của chiến lược Kinh tế - Xã hội. “Nguồn lực con người” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Về nguồn nhân lực trong xã hội, có một số quan điểm như sau: Nguồn nhân lực của một quốc gia là bộ phận của dân số nằm trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật và có khả năng tham gia lao động.

Như vậy số lượng nguồn nhân lực vừa phụ thuộc vào khả năng tham gia lao động của từng cá nhân vừa phụ thuộc vào quy định “ độ tuổi lao động” của từng quốc gia. Hiện nay ở Việt Nam theo bộ luật lao động quy định độ tuổi lao động là từ 15-60 tuổi đối với nam và từ 15- 55 tuổi đối với nữ; theo cách xác định của Tổng cục thống kê thì nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi [4]. Còn một số quốc gia khác, lại xem nguồn nhân lực là toàn bộ những người bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động. Trong quan niệm này không có giới hạn trên về tuổi của nguồn nhân lực.

Thực tế cho thấy, khái niệm “Nguồn nhân lực” có rất nhiều ý kiến khác nhau. Đối với George T.Boudreau: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng 4 tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức” [6]. Nguyễn Hữu Dũng lại cho rằng: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.

Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn“ [10]. Những vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Qua từng thời kỳ phát triển của nền Kinh tế xã hội, Việt Nam cũng đã xác định “con người là mục tiêu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội” (năm 1991-1995), “Phát triển văn hóa, xây dựng con người tồn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (năm 1996-2000) và chương trình “Phát triển văn hóa và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (năm 2001-2005). Nguồn lực con người là tổng thể tiềm năng của con người bao hàm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người.

Tiềm năng này hình thành năng lực xã hội của con người và ở trạng thái tĩnh. Nguồn lực này phải chuyển sang trạng thái động, nghĩa là phải được phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả, tức là thông qua cách thức và các khâu quản lý mà nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn nhân lực. Có như vậy, mới trở thành vốn con người, vốn nhân lực. Nguồn lực của doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành nên nguồn nhân lực xã hội.

Hay nói khác đi nguồn nhân lực của doanh nghiệp chính là một phần tử của hệ thống nguồn nhân lực xã hội. Đó là tất cả những ai làm việc trong doanh Nghiệp từ vị trí cao nhất (như Thủ Trưởng cơ quan) đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất, làm việc 5 tay chân, đơn giản. Đó cũng là những người đang chờ đợi để có thể tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, tức là nguồn dự trữ của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp do tính chất và đặc thù riêng vốn có mà nó chứa đựng những đòi hỏi, những yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực của mình.

Đó chính là lý do tại sao các doanh nghiệp phải xây dựng, nuôi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho mình một cách hợp lý. Mặt khác, nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể giao hoá với nhau đó là những khu vực mà nguồn nhân lực xã hội trở thành nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Tại đó các doanh nghiệp có thể cạnh tranh với nhau để có được nguồn nhân lực của chính mình. Các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.

Vì vậy, có thể định nghĩa: “Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”.2 Khái niệm, ý nghĩa, chức năng của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp a. Khái niệm quản trị nhân lực Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu, tiếp cận với khái niệm Quản trị nhân lực như: “Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì Quản trị nhân lực bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức” [2]. Giáo sư người Mỹ Dinock cho rằng: “Quản trị nhân lực bao gồm toàn bộ những biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó”. Giáo sư Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân lực là nghệ thuật chọn lựa những 6 nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt tới mức tối đa có thể được”.

Tóm lại, có thể nói “Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức nhằm thu hút, sử dụng nguồn lao động, đào tạo phát triển, đánh giá, duy trì nguồn lao động đó để có thể đạt được những mục tiêu của tổ chức ”. Quản trị nhân lực tốt là điều kiện để mỗi Công ty có thể thực hiện tốt việc sản xuất kinh doanh của mình. Ý nghĩa của công tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp Yếu tố giúp nhận biết được một doanh nghiệp hoạt động tốt hay không hoạt động tốt, thành công hay không thành công chính là lực lượng nhân sự của nó - những con người cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến. Mọi thứ còn lại như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể.

Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp quản trị nhân lực thuộc chức năng chính của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đường lối, chủ trương có tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp do đó nhà quản trị phải là người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các đường lối chính sách mà nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người”.

Quản trị nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra. Quản trị nhân lực (QTNL) gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự. Quản trị nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức.

7 Quản trị nhân lực hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản trị nhân sự. Cung cách quản trị nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. Quản trị nhân lực có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhưng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Chức năng cơ bản của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp - Chức năng thu hút Sử dụng các chính sách và biện pháp nhất định để thu hút nguồn nhân lực. Chủ yếu là giới thiệu phân tích chức vụ biên chế chức vụ, lập kế hoạch cung cầu nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, tuyển người, khảo sát, thông báo tuyển, lựa chọn, thu nhận và bố trí công việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn" tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Các điểm chính bao gồm đánh giá hệ thống quản lý nhân sự hiện tại, xác định những hạn chế, và đưa ra các biện pháp cải tiến như tối ưu hóa quy trình tuyển dụng, đào tạo, và phát triển năng lực nhân viên. Tài liệu này mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp góc nhìn thực tiễn và các bước cụ thể để hoàn thiện công tác quản trị nhân sự, từ đó giúp doanh nghiệp tăng cường hiệu suất và sự hài lòng của nhân viên.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Thực trạng và giải pháp đối với công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty cổ phần xây dựng tư vấn đầu tư Bình Dương, Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty cổ phần sợi thế kỷ, và Biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về quản trị nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khác nhau.