chương I, bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994, sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006, 2007: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động” Như vậy, nguồn nhân lực của một quốc gia bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó, lực lượng lao động là những người với mọi trình độ đang làm việc và người trong độ tuổi lao động nhưng thất nghiệp không có việc làm. Lao động dự trữ bao gồm học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động. Ở cấp độ một cơ quan, một tổ chức, một doanh nghiệp: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi cá nhân có trình độ học vấn, kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy khác nhau nhưng được sắp xếp, bố trí đảm nhận ở các vị trí khác nhau nhưng đều cùng mục tiêu chung của tổ chức.
Để đánh giá nguồn nhân lực thường người ta xem xét hai yếu tố là số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực biểu hiện qua quy mô và tốc độ phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực biểu hiện qua trí lực đó là trình độ học vấn, kiến thức, trình độ 5 chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy được, ý thức và tác phong của người lao động. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn biểu hiện qua tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, phúc lợi xã hội,.
Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực: Có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị nguồn nhân lực: + Quản trị nguồn nhân lực là một tiến trình làm việc với con người và thông qua con người để hoàn thành mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay đổi. + Quản trị nguồn nhân lực là quá trình quản lý con người trong một tổ chức có định hướng đến những mục tiêu của cả tổ chức và cá nhân một cách khoa học. + Quản trị nguồn nhân lực là nghệ thuật sử dụng hiệu quả các trình độ, năng lực của mọi người để đạt được mục tiêu chung của tổ chức và sự hài lòng của từng cá nhân trong tổ chức và xã hội. Quá trình quản trị nguồn nhân lực là một quá trình phối hợp một cách tổng thể các hoạt động: phân tích, hoạch định, tuyển mộ, đào tạo, tổ chức sử dụng, duy trì, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự phát huy hết năng lực nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đã định hướng của tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Làm công tác quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi phải khoa học vì nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội học, triết học, đạo đức học và thậm chí cả dân tộc học [10]. Không những thế, làm công tác quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi phải có nghệ thuật, đó là nghệ thuật quản trị con người vì mỗi con người có tư duy, có đức tính khác nhau vì thế không áp dụng máy móc rập khuôn theo một công thức có sẵn mà cần vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Sự cần thiết của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp, con người không đơn thuần là một yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh mà còn là tài sản quý giá, họ kết hợp với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Hoạt động quản lý nguồn nhân lực là một vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải làm. Đây là một hoạt động hoàn toàn cần thiết vì nếu thiếu nó hoạt động của mọi người trong doanh nghiệp rất lộn xộn và đi lệch mục đích chung của doanh nghiệp, 6 đồng thời giúp cho mọi thành viên của doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ của mình với hiệu suất cao nhất. Điều đặc biệt quan trọng không chỉ là việc đạt kết quả như mong muốn mà còn là ít tốn kém thời gian, tiền bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Theo Jim Keyser: “Các công ty ngày nay hơn nhau hay không là do phẩm chất, trình độ, và sự gắn bó của nhân viên đối với công ty – nghĩa là các nhà quản trị phải nhận thức và đề ra chiến lược quản trị tài nguyên nhân sự của mình một cách có hiệu quả” Như vậy, hoạt động quản lý nguồn nhân lực là rất cần thiết và quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.
Nó đảm bảo doanh nghiệp sử dụng đúng người với kỹ năng và trình độ phù hợp, đúng công việc và đúng thời điểm thích hợp để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Mọi cán bộ trong doanh nghiệp dù ở cấp bậc nào, dù là tổ trưởng sản xuất hay quản đốc phân xưởng, dù ở phòng ban nào trong doanh nghiệp cũng đều là người phụ trách quản lý nguồn nhân lực. Quản lý nguồn nhân lực giúp cho các nhà quản lý các cấp có những phương pháp để đối xử một cách nhất quán với nhân viên của mình, khi đó các nhân viên được đối xử cân bằng và hiểu được giá trị của họ đối với công ty. Một doanh nghiệp có môi trường làm việc tốt, chắc chắn rằng doanh nghiệp đó giảm được phí tổn do bỏ việc gây ra.
Một doanh nghiệp quản lý nguồn nhân lực tốt sẽ đem lại rất nhiều lợi ích và đem lại lợi thế cạnh tranh giữa các đối thủ trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Mục tiêu quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực là một môn khoa học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý con người trong một tổ chức, một đơn vị, một doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu sau: - Mục tiêu cho xã hội: Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tạo công việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho người lao động, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp.
- Mục tiêu cho một tổ chức, một doanh nghiệp: Đem lại sự hài hòa về lợi ích cho khách hàng, nhân viên, cổ đông, môi trường xã hội và sinh thái. Phát triển và nâng cao 7 chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo lực lượng lao động đầy đủ về số lượng và chất lượng cho tổ chức. Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhằm nâng cao năng suất lao động, đem lại hiệu quả cao cho tổ chức. Làm sao cho đội ngũ nhân viên làm tốt vai trò của mình đồng thời cung cấp cho tổ chức lực lượng lao động chất lượng làm việc hiệu quả cao.
- Mục tiêu cho cá thể: Luôn tạo điều kiện để người lao động phát huy hết khả năng của mình và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, tạo sự thỏa mãn ngày càng tăng cho người lao động. Mục tiêu này được biểu hiện qua người lao động có gắn bó với tổ chức và tích cực với công việc hay không. Vì vậy, nhà quản trị nhân sự phải làm thế nào để người lao động sẵn lòng làm việc và nổ lực làm việc một cách chăm chỉ. Chức năng và nhiệm vụ của quản trị nguồn nhân lực: Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực bao gồm: Nghiên cứu tài nguyên nhân sự.
Hoạch định nguồn nhân lực. Tuyển dụng nhân viên. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đánh giá thành tích công tác của người lao động.
Quản trị tiền lương và đãi ngộ. Quan hệ lao động. Phúc lợi và an toàn. Việc quản lý nguồn nhân lực cần cân nhắc và sắp xếp một cách hợp lý trên toàn bộ hệ thống q nhân lực tích cực làm việc, đồng thời giữ lại được những nhân viên nồng cốt, những người có tay nghề cao và làm việc có hiệu quả.
Ngoài ra, trong doanh nghiệp nhà quản trị nhân sự còn có chức năng cố vấn cho các cấp quản trị khác. Bộ phận nhân sự còn có chức năng kiểm tra và giám sát các bộ phận khác thực hiện các chính sách của công ty. Những việc làm này góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu trong công tác quản trị nguồn nhân lực. Tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng đối với bất cứ cấp quản trị nào trong một đạo và kiểm tra họ để họ cùng nhau làm việc, cùng nhau thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Quản trị nhân sự thực sự trải khắp mọi phòng ban của tổ chức. Có thể nói, quản trị nhân sự rất quan trọng mà mọi cấp quản trị cần phải biết. Nội dung quản trị nguồn nhân lực 1. Phân tích công việc: 1.
Khái niệm phân tích công việc: Phân tích công việc là một tiến trình xác định một cách có hệ thống các nhiệm vụ và các kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong một tổ chức. Nói một cách cụ thể hơn, phân tích công việc là một tiến trình mô tả và ghi lại mục tiêu của một công việc, các nhiệm vụ và hoạt động của nó, các điều kiện hoàn thành công việc, các kỹ năng, kiến thức và thái độ cần thiết để hoàn thành công việc [10]. Mục đích phân tích công việc: Phân tích công việc nhằm mục đích cung cấp cho nhà quản trị nắm rõ một cách tóm tắt và đầy đủ các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc nào đó, người thực hiện công việc đó cần có những kỹ năng và kiến thức gì, điều kiện làm việc đó như thế nào. Mỗi công việc đều cần phân tích, thường thì phân tích khi công việc mới phát sinh hoặc có sự thay đổi yếu tố nào đó của công việc hoặc doanh nghiệp mới thành lập, chương trình phân tích được thực hiện đầu tiên.
Lợi ích của việc phân tích công việc: Phân tích công việc sẽ đem lại cho đơn vị rất nhiều lợi ích như: + Đảm bảo thành công trong việc tuyển dụng, phân công, thuyên chuyển, sắp xếp nhân viên. + Giúp cho chính sách tiền lương và đãi ngộ được thực hiện một cách công bằng, khách quan nhờ sự xác định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của công việc đó. + Tạo động lực làm việc nhiều hơn nhờ sự sắp xếp thăng thưởng. + Giúp nhà quản trị có cơ sở lập kế hoạch và phân chia công tác.
+ Ổn định nhân sự nhờ giảm bớt việc phải thay thế người khác do thiếu hiểu biết về công việc và trình độ của họ.