Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện chính sách quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa" do nghiên cứu sinh Trần Xuân Long thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội, năm 2012).

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là chủ trương lớn trong chiến lược sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam. Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài chính được luận án dẫn dụng, tính đến ngày 25/5/2011, cả nước đã thực hiện sắp xếp, chuyển đổi được 5.850 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp. Trong đó, hình thức cổ phần hóa chiếm đa số với 3.948 doanh nghiệp (tương đương 67%), phần còn lại 1.902 doanh nghiệp (chiếm 33%) thực hiện theo các hình thức khác như chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 100% vốn nhà nước, sáp nhập, hợp nhất, giao, bán hoặc khoán.

Cơ quan quản lý Số lượng doanh nghiệp CPH Tỷ lệ cơ cấu (%)
Khối các địa phương 2.294 58%
Khối Bộ, ngành Trung ương 1.197 30%
Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty 457 12%
Tổng cộng 3.948 100%

Mặc dù tiến trình CPH đạt được những kết quả nhất định về thu hút nguồn vốn và đổi mới cơ chế hoạt động, thực tiễn nảy sinh nhiều bất cập nghiêm trọng. Nổi bật nhất là hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp sau CPH còn thấp, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn nhà nước (VNN). Nguyên nhân căn bản xuất phát từ những hạn chế, lỗ hổng trong công tác quản lý VNN tại các doanh nghiệp này. Mặc dù Chính phủ đã ban hành các khung khổ pháp lý như Nghị định số 73/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 và Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý VNN đầu tư vào doanh nghiệp khác, hệ thống chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH vẫn bộc lộ sự thiếu đồng bộ, chưa theo kịp thực tế chuyển đổi, thiếu cơ chế giám sát và phân định quyền hạn rõ ràng. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính sách can thiệp của Nhà nước.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu toàn diện chính sách quản lý VNN đầu tư trong doanh nghiệp sau CPH được hình thành từ quá trình CPH DNNN và tình hình thực hiện chính sách, nhận diện các vướng mắc trong thực tiễn để đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý VNN có hiệu quả trong công ty cổ phần (CTCP) thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và quá trình triển khai thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý VNN trong các công ty cổ phần được thành lập từ việc chuyển đổi sở hữu DNNN; đi sâu phân tích quyền và nghĩa vụ của cơ quan đại diện chủ sở hữu VNN cũng như quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện phần VNN trong doanh nghiệp sau CPH.
  • Phạm vi không gian: Chính sách quản lý VNN trong các doanh nghiệp sau CPH trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý VNN trong các doanh nghiệp sau CPH từ năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận một hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tiến trình cổ phần hóa và quản lý vốn nhà nước theo các giai đoạn và nhóm chủ đề:

Nhóm các nghiên cứu giai đoạn đầu thập niên 1990

Tập trung vào cơ sở lý luận ban đầu về CPH và các vấn đề đặt ra khi chuyển đổi sở hữu ở Việt Nam:

  • Hoàng Công Thi và Phùng Thị Đoan (1992) với công trình "CPH DNNN ở Việt Nam".
  • Ủy ban Vật giá nhà nước (1993) với đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của CPH khu vực kinh tế quốc doanh".
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (1993) về "Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi một số DNNN thành công ty cổ phần ở Việt Nam".
  • Hoàng Đức Tảo (1993) với "CPH DN nhà nước - kinh nghiệm thế giới".
  • Nguyễn Ngọc Quang (1996) với "CPH DN nhà nước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn".

Nhóm nghiên cứu thúc đẩy CPH theo ngành, địa phương và tổng công ty

  • Phạm vi địa phương: Nguyễn Mậu Quyết (2001) nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội; Nguyễn Việt Tiến (2003) với "CPH DNNN ở Hà Nội và một số vấn đề hoàn thiện quản lý DN sau CPH".
  • Phạm vi ngành và doanh nghiệp quy mô lớn: Hoàng Kim Huyền (2003) nghiên cứu ngành công nghiệp; Nguyễn Thị Ngọc Lan (2005) và Trần Nam Hải (2006) nghiên cứu ngành Bưu chính Viễn thông; Vũ Đình Hiếu (2003) nghiên cứu tại Tổng công ty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi; Hoàng Thị Minh (2006) tại Tổng công ty Lương thực miền Bắc; Bùi Quốc Anh (2008) với "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CPH và sau CPH các DNNN ở Việt Nam - lấy ví dụ trong ngành giao thông vận tải".
  • Nghiên cứu về các vấn đề phát sinh sau CPH: Trần Tiến Cường (2010) với "Các vấn đề tồn tại và phát sinh của DN sau CPH đa dạng sở hữu".

Nhóm nghiên cứu về giải pháp tài chính và cơ chế tín dụng trong CPH

  • Lê Hoàng Hải (2001) phân tích vướng mắc tài chính sau CPH.
  • Các công trình nghiên cứu giải pháp tài chính của Vũ Ngọc Khuê (1999), Đặng Thị Bích Thuận (2002), Phạm Đình Toàn (2005), Đặng Thanh Vân (2004), Nguyễn Ngọc Hiếu (2004), Nguyễn Quốc Dũng (2004), Nguyễn Văn Thắng (2006 - tại Hà Tây), Trịnh Thị Kim Ngân (1999 - ngành sản xuất vật liệu xây dựng).
  • Giải pháp tài chính tại các Tổng công ty, Tập đoàn: Nguyễn Tiến Đạt (2004 - Vinaconex), Bùi Minh Thuấn (2004 - Petrolimex), Văn Thị Nguyệt Hoa (2005 - PetroVietnam), Nguyễn Thành Trung (2006 - Bộ Quốc phòng), Nguyễn Thị Dung (2007 - VNPT), Tạ Quang Trung (2008 - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Mai Công Quyền (2007) với "Giải pháp tài chính nhằm phát triển DNNN sau CPH".

Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về vốn, quản lý vốn và giám sát tài chính

  • Lê Chi Mai (1993) với "Vấn đề vốn trong CPH DN nhà nước", đưa ra luận điểm coi CTCP là mô hình hữu hiệu tạo và quản lý vốn, phân tích tình trạng khủng hoảng vốn và đề xuất xác định giá trị doanh nghiệp, tỷ lệ vốn nhà nước.
  • Scott Cheshier và các cộng sự (2006) với "Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư: CPH, tư nhân hóa và chuyển đổi DNNN tại Việt Nam", chỉ ra sự suy giảm kiểm soát do phân quyền không chính thức và đề xuất chuyển vai trò nhà nước sang nhà đầu tư vốn.
  • Nguyễn Mạnh Thắng (2008) nghiên cứu đổi mới quản lý VNN ở các công ty vừa và nhỏ sau CPH qua trường hợp Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu.
  • Lê Đăng Doanh (2009) với luận điểm "Quản lý VNN cần lộ trình", chỉ ra mâu thuẫn "hai trái tim" (trái tim sở hữu và trái tim quản lý) trong quản lý DNNN.
  • Phan Hoài Hiệp (2008) với "Đánh giá thực trạng quản lý VNN đầu tư vào DN".
  • Trần Văn Hiền (2008) và Trần Đức Chính (2001) về kiểm tra, kiểm soát và cơ chế giám sát tài chính DNNN.
  • Trần Xuân Long (2009) với hai bài viết khảo sát các vướng mắc về cơ chế quản lý VNN và quy chế người đại diện.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề CPH ở khía cạnh đẩy nhanh tiến độ, giải quyết các rào cản tài chính trước CPH, hoặc chỉ đánh giá quản lý vốn tại một đơn vị/địa phương đơn lẻ. Thiếu vắng một công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện về khung khổ chính sách quản lý VNN trong các doanh nghiệp sau CPH trên phạm vi toàn quốc để cung cấp cơ sở hoàn thiện thể chế quản lý vốn cho giai đoạn tái cơ cấu kinh tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân tích lý thuyết và các khái niệm cơ bản

Luận án dựa trên khung lý thuyết về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp và lý luận quản trị vốn nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

  • Công ty cổ phần: Khái niệm, đặc điểm pháp lý theo Luật Doanh nghiệp 2005 (vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; trách nhiệm hữu hạn của cổ đông; quyền phát hành chứng khoán; cơ cấu cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi).
  • Cổ phần hóa DNNN: Bản chất là sự xã hội hóa sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ 100% VNN sang CTCP nhiều chủ sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh.
  • Vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau CPH: Bao gồm phần VNN từ DNNN chuyển sang CTCP; giá trị cổ phiếu nhà nước cấp cho người lao động để hưởng cổ tức trước thời điểm Nghị định 44/1998/NĐ-CP; lợi tức được chia từ phần vốn nhà nước để lại tái đầu tư (theo quy định tại Nghị định 73/2000/NĐ-CP).
  • Khung chính sách quản lý VNN: Được cấu thành bởi 4 trụ cột nội dung:
    1. Chính sách về đại diện chủ sở hữu VNN.
    2. Chính sách về người đại diện phần VNN.
    3. Chính sách quản lý và đầu tư VNN tại doanh nghiệp CPH.
    4. Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức phần VNN.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp khảo sát tổng kết thực tiễn kinh tế - xã hội. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các công trình nghiên cứu đi trước, phân tích văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống hóa khung lý thuyết.
  • Phương pháp phân tích văn bản chính sách: Đánh giá hệ thống chính sách (các luật, nghị định, thông tư về CPH và quản lý tài chính doanh nghiệp) để nhận diện khoảng trống và bất cập thể chế.
  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các kênh chính thức của Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sau CPH.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam

Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về CTCP, tiến trình CPH và nội dung cấu thành chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH.

  • Khung pháp lý về CTCP theo Luật Doanh nghiệp 2005:

    • Quy định quyền hạn của cổ đông phổ thông (biểu quyết, nhận cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới phát hành, chuyển nhượng tự do, quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông).
    • Cơ cấu quản trị bắt buộc: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và Ban kiểm soát (bắt buộc với CTCP có trên 11 cổ đông cá nhân hoặc có cổ đông tổ chức nắm trên 50% tổng số cổ phần).
    • Nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp: trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích công ty và cổ đông, không lạm dụng vị trí để trục lợi.
  • Các hình thức CPH theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP:

    • Giữ nguyên VNN hiện có, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
    • Bán một phần VNN hiện có hoặc kết hợp bán bớt VNN với phát hành thêm cổ phiếu.
    • Bán toàn bộ VNN hiện có hoặc kết hợp bán toàn bộ VNN với phát hành thêm cổ phiếu.
  • Bốn nội dung cốt lõi của chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH:

    1. Đại diện chủ sở hữu VNN: Phân công, phân cấp thẩm quyền từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, SCIC, Hội đồng quản trị các Tập đoàn, Tổng công ty.
    2. Người đại diện phần VNN: Tiêu chuẩn (quốc tịch, phẩm chất, trình độ tài chính, không có quan hệ gia đình trực hệ với ban lãnh đạo), nhiệm vụ (tham gia ứng cử, biểu quyết theo chỉ đạo, theo dõi thu hồi vốn/cổ tức, báo cáo định kỳ), quyền lợi (lương, thù lao, phụ cấp người đại diện, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm).
    3. Quản lý và đầu tư VNN: Phân cấp thẩm quyền quyết định tăng, giảm vốn, chuyển nhượng quyền mua cổ phần; thu hồi VNN chuyển về tài khoản đại diện chủ sở hữu hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.
    4. Phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức: Quy định về trích lập quỹ, chi trả cổ tức và nộp lợi tức phần VNN về ngân sách hoặc các quỹ chuyên dùng.
  • Kinh nghiệm quốc tế về quản lý VNN tại doanh nghiệp:

    • Trung Quốc: Quản lý vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp thông qua hệ thống cơ quan quản lý và giám sát tài sản nhà nước chuyên trách (SASAC).
    • Hungary: Chính sách quản lý, giám sát VNN trong hoạt động tư nhân hóa và đa dạng hóa sở hữu DNNN.
    • Singapore: Mô hình đầu tư và kinh doanh VNN thông qua công ty đầu tư nhà nước Temasek Holdings (phân tích Bảng 1.1 về cơ cấu danh mục tài sản nắm giữ của Temasek).

Chương II: Tình hình thực hiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa từ năm 1992 đến nay ở Việt Nam

Chương II phản ánh bức tranh thực trạng thực hiện CPH và chính sách quản lý VNN qua hai giai đoạn phát triển:

  • Hai giai đoạn CPH DNNN tại Việt Nam:

    • Giai đoạn 1992 - 1998: Giai đoạn thí điểm CPH với số lượng doanh nghiệp chuyển đổi còn hạn chế.
    • Giai đoạn 1998 đến thời điểm nghiên cứu (2010 - 2011): Giai đoạn đẩy mạnh CPH trên diện rộng theo các Nghị định 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP.
  • Dữ liệu thực trạng được tổng hợp qua hệ thống bảng biểu trong luận án:

    • Cơ cấu sắp xếp doanh nghiệp: Đến 25/5/2011 có 5.850 DN sắp xếp; 3.948 DN CPH (chiếm 67%); phân bố gồm 2.294 DN địa phương (58%), 1.197 DN thuộc Bộ/ngành (30%), 457 DN thuộc Tập đoàn/Tổng công ty (12%).
    • Biểu đồ 2.1: Số lượng doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
    • Biểu đồ 2.2: Số lượng DNNN CPH qua các năm.
    • Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và không chi phối.
    • Bảng 2.1 & 2.2: Cơ cấu vốn điều lệ và tỷ lệ VNN đầu tư vào các doanh nghiệp CPH.
    • Bảng 2.3, 2.5 & 2.6: Kết quả tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu VNN về SCIC; các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hoạt động của doanh nghiệp sau khi chuyển giao về SCIC; các chỉ tiêu tài chính của SCIC qua ba năm hoạt động.
  • Những thành tựu và kết quả đạt được:

    • CPH góp phần huy động thêm các nguồn vốn xã hội cho doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy tính chủ động, từng bước ngăn chặn sự trì trệ trong hoạt động kinh doanh.
    • Hình thành cơ chế phân định bước đầu giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và quyền đại diện chủ sở hữu vốn của Nhà nước với sự ra đời của SCIC.
  • Những tồn tại, vướng mắc căn bản trong thực hiện chính sách:

    • Về đại diện chủ sở hữu: Mô hình đại diện còn phân tán qua nhiều tầng nấc (các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh). Tính chất can thiệp hành chính còn nặng nề, thiếu tính chuyên nghiệp trong quản trị vốn kinh doanh; một số Bộ và địa phương chậm trễ, chưa nghiêm túc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu VNN về SCIC.
    • Về người đại diện phần VNN: Năng lực quản trị của một bộ phận người đại diện chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế cử, bổ nhiệm còn mang tính hành chính; thiếu quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ rõ ràng; chính sách đãi ngộ, tiền lương, phụ cấp chưa tương xứng với trách nhiệm; chế tài xử lý sai phạm chưa đủ tính răn đe.
    • Về quản lý và đầu tư vốn: Phân cấp thẩm quyền đầu tư mới chưa đầy đủ cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành của SCIC; xuất hiện tình trạng đầu tư chéo, đầu tư dàn trải ngoài ngành nghề kinh doanh chính tại các tập đoàn, tổng công ty gây rủi ro thất thoát vốn.
    • Về phân phối cổ tức và thu hồi vốn: Nhiều doanh nghiệp cố tình giữ lại các khoản tiền thu từ bán bớt phần VNN hoặc chậm nộp cổ tức được chia về các Quỹ quản lý tập trung theo quy định.

Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam

Chương III xác định các quan điểm, phương hướng và đưa ra các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới toàn diện thể chế quản lý VNN:

  • Phương hướng hoàn thiện: Bám sát đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu DNNN; chuyển đổi dứt điểm phương thức quản lý vốn từ can thiệp hành chính trực tiếp sang quản trị đầu tư vốn theo nguyên tắc thị trường; tách bạch chức năng chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản lý hành chính nhà nước.

  • Các giải pháp chủ yếu được đề xuất:

    1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý và Quy chế người đại diện:
      • Đề xuất Chính phủ sớm ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện phần VNN trong doanh nghiệp sau CPH.
      • Chuẩn bị các điều kiện trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh.
      • Quy định rõ tiêu chuẩn, quyền hạn, trách nhiệm cá nhân của người đại diện gắn với kết quả bảo toàn và tăng trưởng vốn; hoàn thiện chính sách tiền lương, thù lao, phụ cấp và cơ chế phân phối quyền mua cổ phần phát hành thêm minh bạch.
    2. Đổi mới mô hình tổ chức cơ quan đại diện chủ sở hữu VNN theo 2 hướng:
      • Hướng 1 (Mô hình quản lý nhà nước chuyên trách): Thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước nhằm thống nhất đầu mối thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu VNN.
      • Hướng 2 (Mô hình định chế đầu tư và kinh doanh vốn): Nâng cao vai trò, năng lực tài chính và quyền chủ động kinh doanh của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành SCIC.
    3. Thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp: Thiết lập cơ chế tập trung các nguồn thu từ CPH, thoái vốn nhà nước và lợi tức cổ tức để tái đầu tư có mục tiêu vào các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý VNN trong điều kiện chuyển đổi sở hữu sang mô hình công ty cổ phần.
  • Định hình cấu trúc 4 nội dung cốt lõi của chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH: (1) Chính sách về đại diện chủ sở hữu VNN; (2) Chính sách về người đại diện phần VNN; (3) Chính sách quản lý, đầu tư VNN; (4) Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức VNN.

Đóng góp về thực tiễn và giải pháp chính sách

  • Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng CPH tại Việt Nam giai đoạn 1992 - 2011 với hệ thống số liệu cụ thể (5.850 doanh nghiệp sắp xếp, 3.948 doanh nghiệp CPH).
  • Nhận diện 4 nhóm tồn tại, vướng mắc mang tính thể chế: sự phân tán quyền đại diện chủ sở hữu; bất cập về năng lực và cơ chế đãi ngộ người đại diện; sự hạn chế trong phân cấp đầu tư vốn; tình trạng chậm nộp, chiếm dụng nguồn thu từ bán vốn và cổ tức.
  • Đề xuất giải pháp mang tính tổ chức bộ máy: Thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc nâng cao năng lực định chế kinh doanh vốn SCIC; đề xuất ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện VNN và xây dựng Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào kinh doanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung đánh giá dữ liệu thực trạng trong phạm vi thời gian từ năm 1992 đến năm 2011. Các số liệu chủ yếu dựa trên nguồn thống kê thứ cấp chính thức từ Bộ Tài chính, SCIC và các đợt tổng kết CPH. Nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích định lượng chi tiết cho từng loại hình ngành nghề đặc thù (ngân hàng, viễn thông, khoáng sản).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi quá trình thực thi các mô hình đại diện chủ sở hữu chuyên trách khi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được ban hành; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế định giá phần vốn nhà nước khi thoái vốn trên thị trường chứng khoán.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho Bộ Tài chính, các Bộ ngành liên quan trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vốn nhà nước, hoàn thiện Quy chế người đại diện vốn và cơ chế quản lý của SCIC.
  • Đối với các doanh nghiệp, Tập đoàn, Tổng công ty: Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng quy chế quản trị nội bộ đối với phần vốn góp của Tổng công ty tại các công ty liên kết, công ty con sau CPH.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên kinh tế: Tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế phát triển, quản trị tài chính công và tài chính doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến ngày 25/5/2011, quy mô CPH DNNN tại Việt Nam đạt được những con số cụ thể nào?

Theo số liệu của Bộ Tài chính được nêu trong luận án, cả nước đã sắp xếp, chuyển đổi được 5.850 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp. Trong đó có 3.948 doanh nghiệp CPH (chiếm 67%). Cơ cấu phân bổ gồm: 2.294 doanh nghiệp thuộc địa phương (58%), 1.197 doanh nghiệp thuộc khối Bộ, ngành (30%) và 457 doanh nghiệp thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty (12%).

2. Bốn trụ cột nội dung chính sách quản lý VNN trong doanh nghiệp sau CPH được luận án xác định là gì?

Bao gồm: (1) Chính sách về đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; (2) Chính sách về người đại diện vốn nhà nước; (3) Chính sách quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (4) Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức phần vốn nhà nước.

3. Những hạn chế căn bản về người đại diện vốn nhà nước được luận án chỉ ra là gì?

Năng lực chuyên môn của một bộ phận người đại diện chưa đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế thị trường; cơ chế bổ nhiệm còn mang tính hành chính; thiếu quy chế và tiêu chí đánh giá chính xác mức độ hoàn thành nhiệm vụ; chính sách tiền lương, phụ cấp, đãi ngộ chưa thỏa đáng; các chế tài xử lý trách nhiệm khi để xảy ra thua lỗ, thất thoát chưa nghiêm minh.

4. Luận án đề xuất những mô hình nào để giải quyết vấn đề phân tán đại diện chủ sở hữu VNN?

Luận án đề xuất xem xét mô hình quản lý theo 2 hướng: (i) Mô hình cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách thông qua việc thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (ii) Mô hình đầu tư và kinh doanh vốn thông qua việc củng cố, nâng cao năng lực và phân cấp đầu tư mạnh mẽ hơn cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).

5. Luận án đã tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ những quốc gia nào?

Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thực tế về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại Trung Quốc (quản lý VNN đầu tư vào doanh nghiệp), Hungary (chính sách quản lý, giám sát VNN trong tư nhân hóa và đa dạng hóa DNNN) và Singapore (mô hình đầu tư và kinh doanh vốn của Temasek Holdings).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Xuân Long là công trình nghiên cứu hệ thống về chính sách quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp sau cổ phần hóa tại Việt Nam giai đoạn 1992 - 2011. Tác phẩm đã phân tích toàn diện 4 nội dung chính sách cốt lõi, chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế trong việc phân tán quyền đại diện chủ sở hữu và quy chế người đại diện vốn. Trên cơ sở bài học kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tái cơ cấu kinh tế, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý, đổi mới mô hình tổ chức đại diện chủ sở hữu và nâng cao năng lực quản trị vốn nhà nước theo nguyên tắc thị trường.