Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy Cho Học Sinh Lớp 4, Lớp 5 Thông Qua Dạy Học Giải Toán

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình thành kỹ năng tư duy cho học sinh lớp 4, 5 qua dạy học giải toán, nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.4. Tư duy và kĩ năng tư duy

1.2. Biểu hiện kĩ năng tư duy trong giải toán của học sinh tiểu học

1.2.1. Đánh giá kĩ năng tư duy trong dạy học giải toán ở tiểu học

1.2.2. Những căn cứ để hình thành kĩ năng tư duy cho học sinh thông qua dạy học giải toán

1.3. Mục tiêu và nội dung dạy học môn Toán ở Tiểu học

1.3.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học

1.3.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4, lớp 5

1.3.3. Hoạt động dạy học giải toán ở Tiểu học

1.3.4. Thực trạng hình thành kĩ năng tư duy cho học sinh lớp 4, lớp 5 thông qua dạy học giải toán ở một số trường Tiểu học

2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG TƯ DUY CHO HỌC SINH LỚP 4 , LỚP 5 THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI TOÁN

2.1. Định hướng xây dựng và thực hiện biện pháp

2.2. Một số biện pháp hình thành kĩ năng tư duy cho học sinh lớp 4, lớp 5 thông qua dạy học giải toán

2.3. Rèn luyện kĩ năng phân tích đề toán, suy luận nhằm xác định hướng giải và tìm cách giải bài toán

2.4. Rèn luyện kĩ năng diễn đạt, trình bày lời giải bài toán

2.5. Rèn luyện kĩ năng đánh giá lời giải bài toán. Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm hình thành kĩ năng tư duy cho học sinh

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm sư phạm

3.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm

3.3. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.5. Nội dung đánh giá, công cụ đánh giá và xử lý số liệu

3.5.1. Nội dung đánh giá

3.5.2. Công cụ đánh giá

3.5.3. Xử lý số liệu

3.5.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy Qua Dạy Học Giải Toán

Hình thành kỹ năng tư duy cho học sinh lớp 4, 5 là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Việc dạy học giải toán không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy logic, sáng tạo. Theo nghiên cứu của Đỗ Tùng (2014), việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy một cách hiệu quả hơn.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Tư Duy Trong Giáo Dục

Kỹ năng tư duy giúp học sinh giải quyết vấn đề, phân tích và đánh giá thông tin. Điều này không chỉ cần thiết trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Việc phát triển tư duy sớm sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển cá nhân sau này.

1.2. Mối Liên Hệ Giữa Giải Toán Và Tư Duy

Giải toán là một hoạt động trí tuệ cao, yêu cầu học sinh phải tư duy logic và sáng tạo. Qua việc giải quyết các bài toán, học sinh không chỉ học cách tính toán mà còn rèn luyện khả năng phân tích và tổng hợp thông tin.

II. Những Thách Thức Trong Việc Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy

Mặc dù việc hình thành kỹ năng tư duy cho học sinh lớp 4, 5 qua dạy học giải toán rất quan trọng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Nhiều giáo viên chưa có đủ kiến thức và kỹ năng để áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Theo khảo sát, một số giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển tư duy cho học sinh.

2.1. Thiếu Kinh Nghiệm Trong Dạy Học

Nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học tích cực. Điều này dẫn đến việc họ thường áp dụng các phương pháp truyền thống, không khuyến khích sự sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh.

2.2. Áp Lực Về Kết Quả Học Tập

Áp lực từ việc đánh giá kết quả học tập có thể khiến giáo viên tập trung vào việc dạy kỹ năng giải toán mà bỏ qua việc phát triển tư duy cho học sinh. Điều này có thể dẫn đến việc học sinh chỉ học thuộc lòng mà không hiểu bản chất vấn đề.

III. Phương Pháp Dạy Học Giải Toán Để Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy

Để hình thành kỹ năng tư duy cho học sinh lớp 4, 5, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Theo Đỗ Tùng (2014), việc sử dụng các bài tập thực tiễn và tình huống thực tế trong dạy học sẽ giúp học sinh phát triển tư duy tốt hơn.

3.1. Sử Dụng Bài Tập Thực Tiễn

Bài tập thực tiễn giúp học sinh áp dụng kiến thức vào cuộc sống. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về kiến thức mà còn kích thích tư duy sáng tạo của các em.

3.2. Khuyến Khích Thảo Luận Nhóm

Thảo luận nhóm là một phương pháp hiệu quả để phát triển tư duy. Qua việc trao đổi ý kiến, học sinh sẽ học được cách lắng nghe, phân tích và đánh giá quan điểm của người khác.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kỹ Năng Tư Duy Trong Giải Toán

Việc áp dụng kỹ năng tư duy trong giải toán không chỉ giúp học sinh giải quyết bài toán mà còn phát triển khả năng tư duy phản biện. Nghiên cứu cho thấy, học sinh có khả năng tư duy tốt thường có kết quả học tập cao hơn. Việc này cũng giúp các em tự tin hơn trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tư Duy

Nghiên cứu cho thấy, học sinh được rèn luyện tư duy qua giải toán có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn. Họ cũng có xu hướng sáng tạo hơn trong các hoạt động học tập khác.

4.2. Tác Động Đến Kết Quả Học Tập

Học sinh có kỹ năng tư duy tốt thường có kết quả học tập cao hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển tư duy trong giáo dục.

V. Kết Luận Về Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy Qua Dạy Học Giải Toán

Hình thành kỹ năng tư duy cho học sinh lớp 4, 5 qua dạy học giải toán là một nhiệm vụ quan trọng. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp học sinh phát triển tư duy một cách hiệu quả. Cần có sự hỗ trợ từ giáo viên và nhà trường để đảm bảo rằng học sinh có thể phát triển kỹ năng này một cách tốt nhất.

5.1. Tương Lai Của Giáo Dục Tư Duy

Tương lai của giáo dục sẽ phụ thuộc vào khả năng phát triển tư duy của học sinh. Việc này không chỉ giúp các em thành công trong học tập mà còn trong cuộc sống.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Giáo Dục

Cần có các chính sách giáo dục hỗ trợ việc phát triển tư duy cho học sinh. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.

27/06/2025
Luận án tiến sĩ hình thành kĩ năng tư duy cho học sinh lớp 4 lớp 5 thông qua dạy học giải toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về tư duy, rèn luyện và phát triển tư duy nói chung, tư duy toán học nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Có thể nói dạy và học ngày nay về cơ bản là dạy cách tư duy, học cách tư duy.

Mục đích cao nhất của việc dạy học là phát triển năng lực tư duy cho người học. Kiến thức lâu ngày có thể quên (khi cần có thể đọc sách hay tra cứu), cái còn lại là năng lực tư duy. Nhà Vật lý nổi tiếng N. Sue nói: “Giáo dục – đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điều học thuộc đã quên đi”.

Khổng Tử (551 – 479, trước Công nguyên), nhà tư tưởng, nhà triết học cổ đại của Trung Quốc rất coi trọng việc dạy cách học. Ông nói: Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa [59]. Một câu hỏi thường được đặt ra trong giáo dục là: Chúng ta cần trang bị cho người học những gì để họ có thể đáp ứng được đòi hỏi của xã hội trong tương lai? Đây không phải là một câu hỏi dễ trả lời, nhưng các nhà nghiên cứu đều cho rằng, để có được những công dân có ích của tương lai, chúng ta cần phải trang bị cho họ công cụ tư duy đúng. Điều này lý giải tại sao nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm đối với việc dạy học nhằm hình thành và phát triển tư duy cho HS.

Nghiên cứu về lĩnh vực tư duy và phát triển tư duy được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Piaget, Bruner, Vưgôtxki,… J. Piaget (1896 -1980), nhà tâm lý học người Thụy Sỹ đã nghiên cứu hoàn chỉnh về lý thuyết bản chất và sự phát triển trí tuệ, được biết đến như lý thuyết về các giai đoạn phát triển nhận thức. Theo thuyết này, quá trình phát triển nhận thức của con người trải qua 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn cảm giác – 10 vận động (0-2 tuổi); (2) Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (2-7 tuổi); (3) Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi); (4) Giai đoạn thao tác hình thức (từ 11 tuổi trở lên). Theo Piaget: Một đứa trẻ chỉ có thể học được điều thích hợp với giai đoạn tư duy hiện có [61], [84].

Trong các công trình nghiên cứu của mình về việc học của trẻ, J. Bruner (nhà tâm lý học người Mỹ) nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển tư duy: “Tư duy dẫn đến ngôn ngữ, nhưng, xét cho cùng, ngôn ngữ chịu trách nhiệm về việc phát triển tư duy theo hướng tích cực”. Bruner xem việc học như là một quá trình chủ động, mang tính xã hội trong đó người học kiến tạo ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên kiến thức đã biết. Ông cho rằng giáo dục nên giúp trẻ trải qua sự làm chủ về tri thức và nhận thức.

Điều này rất có lợi đối với người học bởi vì họ có thể tiếp cận những thông tin mà trước đây họ chưa được biết đến. Bruner còn nhấn mạnh đến vai trò của chiến lược được sử dụng trong dạy học chứ không chỉ bản thân môi trường học [96]. Khi được trợ giúp cần thiết, khả năng giải quyết vấn đề của trẻ được tăng lên. Ông tin rằng những gì trẻ có thể làm với sự giúp đỡ của người lớn hôm nay trẻ sẽ có thể tự làm được trong tương lai [24], [96].

Nghiên cứu về quá trình tư duy, Benjamin Bloom và các đồng nghiệp đã xây dựng thành công thang phân loại tư duy bao gồm sáu bậc sắp xếp theo trình tự từ thấp đến cao: Biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Sang những năm 1990, thang tư duy này được chỉnh lại bởi Lorin Anderson – một học trò và sau này cũng là đồng nghiệp của Bloom, với mong muốn thang phân loại tư duy phù hợp hơn và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn trong thế kỷ XXI. Theo đó, thang phân 11 loại tư duy đổi thành: Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo. Thang phân loại tư duy của Bloom đã được sử dụng rộng rãi trong việc thiết kế chương trình học và mục tiêu học tập, kiểm tra đánh giá,…, qua đó đánh giá được hành vi cũng như khả năng của người học thông qua mức độ khả năng tư duy của họ [104].

Alfred Binet (1857-1911) là người đầu tiên phát triển bài kiểm tra trí thông minh ở Pháp, sau này gọi là kiểm tra IQ. Binet tin rằng chúng ta có thể cải thiện tư duy của trẻ không có khả năng bẩm sinh. Điều này đi ngược lại với quan điểm của nhiều nhà tâm lý học coi trí thông minh là cái gì đó chúng ta không thể cải thiện bởi vì trí thông minh phần lớn là do di truyền. Theo Binet, khả năng trí tuệ mà chúng ta có được khi sinh ra không quan trọng bằng việc sử dụng và phát triển nó như thế nào.

Ông cho rằng “Những gì trẻ cần làm là học cách học như thế nào” [96]. Với mục tiêu giúp con người sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra bản đồ tư duy (mind map) để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này thông qua nội dung trình bày trong các cuốn sách “Lập bản đồ tư duy”, “Sách dạy đọc nhanh”,… Các cuốn sách này được nhiều người quan tâm, tìm đọc và làm theo. Theo Fisher [17], cần dạy trẻ cách tư duy có phê phán, sáng tạo và hiệu quả. Ông khẳng định một trong những nhiệm vụ dạy trẻ em tư duy là việc rèn luyện khả năng vận dụng kinh nghiệm đã có vào những hoàn cảnh mới và tư duy của trẻ em phát triển thông qua quá trình giao tiếp với thế giới xung quanh.

Một số nghiên cứu về tư duy, KNTD được thực hiện như: Tại sao phải dạy tư duy (R. Nickerson); Các hình thức tư duy: quan điểm tích hợp trong việc dạy các KNTD (D.N Perkins); Dạy tư duy: Mô hình phát triển nhằm đưa 12 các KNTD vào quá trình giảng dạy (R. Swartz), Đánh giá các KNTD tại lớp học (J. Cũng theo [17], [96], khi nghiên cứu về KNTD, các tác giả đều thống nhất chung là có hai hướng tiếp cận để dạy học phát triển các KNTD cho HS: Hướng thứ nhất, thiết kế các chương trình riêng để dạy tư duy cho HS.

Các chương trình được soạn sẵn có ưu thế về cơ sở lý luận và chiến lược thực hiện chặt chẽ và không bị bó buộc bởi khung kiến thức giáo dục chung, người học có thể xác định rõ ràng vị trí của các KNTD cũng như GV có thể đánh giá các kĩ năng của HS thuận lợi hơn. Tuy nhiên, sức ép về sự quá tải của HS đối với các môn học trong trường, thời gian thực hiện các chương trình tương đối dài cũng như không có chương trình nào có thể phù hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng,… là những thách thức, khó khăn khi triển khai các chương trình này nhằm rèn luyện KNTD cho học sinh. Hướng thứ hai, dạy KNTD kết hợp với chương trình giáo dục phổ thông trong nhà trường. Cách làm này không đòi hỏi phải có thêm môn học mới, tránh phải dạy một số kiến thức về tư duy một cách riêng biệt dễ gây ra sự nhàm chán cho người học.

Tuy nhiên, một khó khăn gặp phải khi triển khai theo hướng này là không phải mọi GV đều là chuyên gia về lĩnh vực KNTD do đó cần phải chuẩn bị kiến thức cho GV, hướng dẫn cho để họ có thể thông qua bài giảng của mình để vừa dạy kiến thức cho HS, vừa trang bị các KNTD cho các em. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục có các nghiên cứu về việc rèn luyện, phát triển tư duy cho HS như: tác giả Trần Thúc Trình với tài liệu “Rèn luyện tư duy trong dạy học toán” dùng cho học viên cao học (Viện KHGD) năm 2003; Lê Đức Ngọc với “Dạy và Học tư duy” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục, số 12 (2004); “Tư duy và việc dạy tư duy cho học sinh” 13 của tác giả Phan Thị Hạnh Mai, Tạp chí giáo dục số 79 (2004). Các tác giả Vũ Quốc Chung, Trần Thị Lan Hương nghiên cứu “Phát triển tư duy cho học sinh lớp 5 qua dạy học bài toán có nội dung hình học” (tạp chí NCGD số 8/1994), Hoàng Lê Minh nghiên cứu “Rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh khi thảo luận nhóm trong giờ học môn Toán” (Tạp chí giáo dục, số 163/2007), Trần Ngọc Lan nghiên cứu “Rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động tạo lập bài toán từ các tình huống mở” (Tạp chí Giáo dục, số 227/2009), Thái Thị Hồng Lam đề xuất “Vận dụng tư duy thuận nghịch trong dạy học môn toán” (Tạp chí khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, số ESM/2013),… đã đề cập đến các nội dung này. Đã có một số luận án tiến sĩ bảo vệ thành công nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực tư duy của HS có thể kể đến như: Vũ Quốc Chung (1995) “Góp phần hoàn thiện nội dung và phương pháp dạy học yếu tố hình học theo hướng bồi dưỡng một số năng lực tư duy cho học sinh tiểu học”, Tôn Thân (1995), “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi toán ở trường trung học phổ thông cơ sở Việt Nam”, Trần Luận (1996), “Vận dụng tư tưởng sư phạm của G.

Pôlya xây dựng nội dung và phương pháp dạy học trên cơ sở các hệ thống bài tập theo chủ đề nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh chuyên toán cấp II”, Trần Đức Chiển (2007), “Rèn luyện năng lực tư duy thống kê cho học sinh trong dạy học thống kê – xác suất ở môn Toán Trung học phổ thông”, Nguyễn Văn Thuận (2004), “Góp phần phát triển năng lực tư duy lôgic và sử dụng chính xác ngôn ngữ Toán học cho học sinh đầu cấp trung học phổ thông trong dạy học đại số”, Chu Cẩm Thơ (2010): “Vận dụng phương pháp kích thích tư duy của học sinh trong dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông”, Phan Thị Luyến (2008), “Rèn luyện tư duy phê phán của học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình”, 14 Nguyễn Thị Kim Thoa (2008), “Rèn luyện kĩ năng tiền chứng minh cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học các yếu tố hình học”,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hình Thành Kỹ Năng Tư Duy Cho Học Sinh Lớp 4, 5 Qua Dạy Học Giải Toán" tập trung vào việc phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp dạy học giải toán. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức toán học mà còn phát triển khả năng tư duy logic và sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Khóa luận tốt nghiệp rèn luyện khả năng phân tích tổng hợp khái quát hóa tương tự cho học sinh lớp 4 5 thông qua dạy học môn toán", nơi cung cấp những phương pháp cụ thể để phát triển tư duy cho học sinh. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học khắc phục khó khăn và sai lầm theo hướng phát triển tư duy phê phán cho học sinh trong dạy học môn toán lớp 4" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách khắc phục những khó khăn trong quá trình học toán. Cuối cùng, tài liệu "Phát triển tư duy lôgic cho học sinh trường thcs trong dạy học phương trình hệ phương trình" sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc phát triển tư duy logic cho học sinh ở cấp độ cao hơn.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những phương pháp hữu ích để áp dụng trong giảng dạy và học tập.