ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thực hành lâm sàng trước đây, việc nhịn ăn từ đêm trước phẫu thuật là một quy trình trong phác đồ chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật nhằm hạn chế sự trào ngược dạ dày ở người bệnh phẫu thuật chương trình. Tuy nhiên, các nghiên cứu phân tích gộp đưa ra kết luận rằng việc nhịn ăn qua đêm không làm giảm thể tích và tính axít của dịch dạ dày [30]. Theo Hội Gây mê Hòa Kỳ năm 2011 và Hiệp hội Dinh dưỡng và Chuyển hóa lâm sàng Châu Âu ESPEN năm 2017 khuyến cáo người bệnh uống dung dịch trong đến 2 giờ trước gây mê. Uống dung dịch maltodextrin trước phẫu thuật mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh như giảm đề kháng insulin, giảm mất sức cơ, cải thiện chức năng phổi, chức năng ruột phục hồi nhanh.
Ngoài ra, uống maltodextrin 2 giờ trước gây mê còn giúp người bệnh giảm cảm giác không thoải mái trước phẫu thuật như cảm giác khát, cảm giác đói, khô miệng, mệt mỏi, giảm buồn nôn và nôn sau phẫu thuật. Do đó, chỉ định uống dung dịch maltodextrin trước phẫu thuật trở thành là một trong những khuyến cáo giúp tăng cường phục hồi sau phẫu thuật [7], [66]. Maltodextrin là loại đường đa, có tác dụng tăng làm trống dạ dày. Tại Việt Nam, năm 2020 có tác giả nghiên cứu dùng 200 mL maltodextrin 25% uống 2 giờ trước gây mê có kết quả nhóm uống maltodextrin có thể tích tồn lưu dịch dạ dày thấp hơn so với nhóm nhịn qua đêm [5].
Tương tự, nghiên cứu khác dùng 400 mL maltodextrin 12,5% uống 2 giờ trước gây mê ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp, có kết quả nhóm uống maltodextrin có thể tích tồn lưu dịch dạ dày thấp hơn so với nhóm nhịn qua đêm [3]. Nghiên cứu của Doo và CS dùng 400 mL maltodextrin 12,5% uống 2 giờ trước gây mê ở người bệnh phẫu thuật tuyến giáp ghi nhận mức độ khát, đói khác nhau không có ý nghĩa giữa nhóm uống maltodextrin so với nhóm nhịn qua đêm. lại, các nghiên cứu của Rizvanovic, Wang S, Zhang cho thấy, uống maltodextrin 2 giờ trước gây mê cải thiện cảm giác khát, đói so với nhóm nhịn qua đêm có ý nghĩa thống kê, thể tích tồn lưu dịch dạ dày khác nhau không có ý nghĩa thống kê hơn so với nhóm nhịn qua đêm [50], [63], [71]. Thể tích tồn lưu dịch dạ dày có thể đước xác định qua chụp cộng hưởng từ, nội soi dạ dày, đặt ống thông dạ dày, siêu âm hang vị dạ dày….
Trong đó, siêu âm dạ dày được xem là một phương tiện dễ thực hiện, chi phí thấp, không xâm lấn, đánh giá hang vị dạ dày với độ tin cậy cao vì nó cung cấp thông tin liên quan đến thể tích và đặc điểm các chất chứa trong dạ dày [48], [46]. Với điều kiện hiện tại (máy siêu âm, bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa dinh dưỡng, maltodextrin), chúng tôi muốn đánh giá hiệu quả uống 400 mL maltodextrin 12,5% đêm trước phẫu thuật và uống 200 mL 2 giờ trước gây mê qua việc đánh giá thể tích tồn lưu dịch dày qua siêu âm hang vị dạ dày và sự thoải mái giữa nhóm uống maltodextrin và nhóm nhịn qua đêm. Tại Việt Nam, vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều và áp dụng rộng rãi. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài “Hiệu quả uống maltodextrin 12,5% 2 giờ trước gây mê trên thể tích dạ dày và sự thoải mái của người bệnh phẫu thuật nội soi cắt túi mật” với các mục tiêu sau: CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Uống 400 mL maltodextrin 12,5% đêm trước phẫu thuật và uống 200 mL maltodextrin 12,5% 2 giờ trước gây mê có gây tăng thể tích tồn lưu dịch dạ dày và cải thiện mức độ khát, đói, mệt mỏi không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
So sánh thể tích tồn lưu dịch dạ dày trước gây mê qua siêu âm hang vị ở nhóm uống maltodextrin và nhóm nhịn qua đêm. Xác định mức độ thoải mái của người bệnh qua mức độ khát, đói, mệt mỏi trước gây mê giữa nhóm uống maltodextrin và nhóm nhịn qua đêm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hƣớng dẫn nhịn ăn trƣớc phẫu thuật Nhịn ăn qua đêm trước phẫu thuật được thực hiện khi các kỹ thuật gây mê còn khá thô sơ, khi chloroform được sử dụng vào thế kỷ 18 và mục tiêu chính là tránh các biến chứng hô hấp do nôn ói và hít phải dịch dạ dày.
Những khuyến cáo này dựa trên các triệu chứng được mô tả trong hội chứng Mendelson vào năm 1946 khi hồi cứu lại các trường hợp tử vong ở phụ nữ mang thai liên quan đến việc hít thức ăn đặc từ dạ dày trong quá trình gây mê toàn thân. Từ những ghi nhận này, quá trình chuyển dạ có thể làm chậm sự làm trống dạ dày và khuyến cáo quy trình nhịn ăn trên 8 giờ trước khi gây mê được đặt ra [10], [30]. Trào ngược do dịch dạ dày khi an thần hoặc gây mê tổng quát hiếm xảy ra, tuy nhiên khi xảy ra biến chứng thì vô cùng nặng nề, thậm chí hậu quả có thể gây tử vong. Thể tích dịch dạ dày được xem là một yếu tố nguy cơ quan trọng của trào ngược.
Vì thế nhịn đói trước an thần hoặc gây mê toàn diện được xem là quy trình thường quy để làm giảm trào ngược dạ dày [15]. Theo quan điểm trước đây, việc nhịn đói qua đêm trước các phẫu thuật chương trình đã được áp dụng thường quy trong thực hành y khoa để giảm nguy cơ trào ngược dạ dày. Nhưng một số nghiên cứu chỉ ra rằng, việc nhịn đói kéo dài không làm giảm thể tích dịch dạ dày, mà còn làm tăng sự không thoải mái cho người bệnh [34], [55]. Do đó, nhiều hướng dẫn trên thế giới đã khuyến cáo rút ngắn thời gian nhịn ăn trước phẫu thuật để tăng cường hồi phục sau phẫu thuật [30].1 Thời gian nhịn trƣớc gây mê Loại thức ăn Thời gian nhịn tối thiểu Nước trong 2 giờ Sữa mẹ 4 giờ Sữa công thức 6 giờ Sữa khác 6 giờ Thức ăn nhẹ 6 giờ Thức ăn chiên, thịt, mỡ 8 giờ Nguồn: Iqbal U.
Giải phẫu và sinh lý dạ dày 1. Giải phẫu dạ dày Dạ dày hình túi chữ J, được chia 4 phần dựa trên cấu trúc và chức năng gồm đáy vị, thân vị, hang vị và môn vị. Đáy vị là phần phía trên dạ dày, thân vị là phần lớn nhất dạ dày, hang – môn vị là phần xa nhất dạ dày nằm ở vùng thượng vị. Hang vị nằm ở phía sau thùy trái của gan và nằm trước tuyến tụy, động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới.
Hang vị ít thay đổi hình dạng, chứa ít hơi hơn so với thân vị và đáy vị vì vậy ít ảnh hưởng đến phân tích hình ảnh dạ dày dưới siêu âm. Kích thước dạ dày thay đổi nhiều tuỳ theo lượng thức ăn, bình thường dạ dày có chiều dài khoảng 25 cm, rộng 12 cm, thể tích trung bình khoảng 1,2 lít [1]. Sinh lý dạ dày Nguồn gốc d c v Ở niêm mạc dạ dày ngoài tế bào tiết nhầy nằm khắp bề mặt của dạ dày, còn có hai loại tuyến quan trọng là tuyến đáy vị và tuyến môn vị tham gia bài tiết dịch. H n hợp dịch bài tiết ra được gọi là dịch vị [4].1 Cơ chế bài tiết HCl ở dạ dày Nguồn: Nguyễn Trung Kiên, (2019) [4] 1.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến tốc độ làm trống dạ dày Việc làm trống dạ dày được kiểm soát bởi con đường thần kinh và nội tiết trong quá trình đáp ứng với thể tích, nồng độ thẩm thấu, pH, các thụ thể mỡ và amino – a xít ở dạ dày, tá tràng và hổng tràng. Những hormones ở ruột có vai trò làm thay đổi hoạt động vận động của dạ dày gồm: gastrin, serectin, cholecytokinines, GIP (gastric inhibitory polypeptide), VIP (vasoinhibitory polypeptide) và somatostatin. Kiểm soát thần kinh chủ yếu qua hệ thống thần kinh phế vị. Các thụ thể ở dạ dày và ruột non đáp ứng với với sự thay đổi bởi thể tích và sự tiết dịch ở dạ dày bằng cách thay đổi tốc độ làm trống dạ dày để tối đa hóa sự hấp thu dịch và chất hòa tan tại ruột non [38].
Sự làm trống dạ dày nhanh gây tăng đường huyết sau ăn Sự làm trống dạ dày Đường huyết sau ăn Tăng đường huyết cấp gây chậm làm trống dạ dày, hạ đường huyết gây tăng làm trống dạ dày GLP-1 chậm làm Tế bào β Tế bào α Sự làm trống dạ dày nhanh trống dạ dày gây tăng tiết GIP, GLP-1 GLP-1, GIP gây tăng tiết insulin GLP-1 ức chế tiết glucagon Hình 1.2 Mối liên hê giữa đƣờng huyết sau ăn, hormone nội tiết và sự làm trống dạ dày Nguồn: Marathe C. Thể tích dạ dày Khi dịch vào dạ dày, tốc độ thoát ra để đến tá tràng và h ng tràng được quyết định bởi nhiều yếu tố. Khi dịch vào đến dạ dày, yếu tố quyết định làm trống dạ dày là ảnh hưởng của thể tích với áp lực trong dạ dày. Các thụ thể trong cơ dạ dày đáp ứng khi dạ dày căng và tăng áp lực bằng cách tăng tốc độ làm trống dạ dày.
Tốc độ làm trống dạ dày nhanh nhất khi thể tích dạ dày lớn nhất, nghĩa là ngay sau khi uống. Việc làm trống dạ dày sẽ chậm lại phụ thuộc phần lớn vào đặc tính dinh dưỡng của loại dịch uống [38]. Hàm lượng calo Tất cả những yếu tố được chú ý, hàm lượng calo là yếu tố chính quyết định tốc độ làm trong dạ dày. Khi hàm lượng calo của dịch uống tăng thì tốc.
độ làm trống dạ dày giảm lại. Nước muối đẳng trương rời khỏi dạ dày nhanh hơn dung dịch có năng lượng. Nghiên cứu của Brener và CS cho thấy khi nồng độ đường càng cao thì tốc độ làm trống dạ dày càng chậm và chậm hơn so với nước muối đẳng trương [38]. Nồng độ thẩm thấu của dung d ch Nhiều nghiên cứu cho thấy, dung dịch có nồng độ thẩm thấu cao sẽ làm chậm quá trình làm trống dạ dày.
Nghiên cứu của Foster cho thấy, tốc độ làm trống dạ dày của đường đa 5% nhanh hơn đường đơn 5%. Nghiên cứu của Mc Hugh và Moran cho thấy tốc độ làm trống dạ dày của dung dịch muối đẳng trương nhanh so với dung dịch glucose 5%. Nghiên cứu của Shafer chứng minh khi uống dung dịch có hàm lượng calo cao thì tốc độ làm trống dạ dày sẽ chậm lại [38]. Tập luyện và điều kiện môi trường Commack và CS báo cáo quá trình làm trống dạ dày sau khi ăn tăng đáng kể nhờ chạy xe đạp.
Môi trường ấm được chứng minh là chậm làm trống dạ dày. Nghiên cứu của Owen và CS cho thấy thể tích tồn lưu dịch dạ dày thấp khi tập luyện ở nhiệt độ môi trường thấp.