Đặt vấn đề Trong nhưng năm qua, trong việc quy hoạch phát triển và vận hành các khu công nghiệp, vấn đề bảo vệ môi trường chưa được quan tâm, gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hơn 20 năm xây dựng và phát triển, mô hình khu công nghiệp đã được hình thành, phát triển đa dạng và đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy vậy, các khu công nghiệp chủ yếu phát triển theo mô hình đa ngành, quá chú ý đến việc thu hút các nhà đầu tư thứ cấp để đẩy nhanh việc lấp đầy diện tích đất cho thuê, chưa thực sự quan tâm đến các vấn đề về môi trường, nên ngày càng tác động tiêu cực tới môi trường sống xung quanh. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra là cần có những giải pháp khả thi, cụ thể để ngăn chặn hiệu quả, giải quyết được tận gốc ô nhiễm do các khu công nghiệp gây ra hiện nay Xuất phát từ thực tế trên tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải tại Công ty và sản xuất bao bì Goldsun, khu công nghiệp Quế Võ, Bắc Ninh’’ 1.2 Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu dõ về quy trình vận hành của nhà máy.
- Tìm hiểu về quy trình công nghệ so sánh với các mô hình công nghệ xử lý khác. - Đưa ra các biện pháp xử lý khi gặp các sự cố về máy móc và môi trường. - Đưa ra các kiến nghị giúp nâng cao quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải của công ty.3 Ý nghĩa thực tiễn của học tập - Giúp cho sinh viên có thể thực hành trước những công việc của nghành học trước khi ra trường để cho sinh viên làm quen và khỏi bị ngỡ ngàng khi vào môi trường làm việc thực sự - Củng cố lại những kiến thức đã học được ở trường về các chuyên ngành đã học để mở rra cơ hội tìm việc làm tốt hơn cho sinh viên sau khi tốt nghiệp - Một phần góp sức giúp đỡ cho nhà máy một số ý kiến mới có thể có ích cho các hoạt động của nhà máy 1.4 Phạm vi thực tập Nhà máy in và sản xuất bao bì Goldsun Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 2.1 Cơ sở lý luận Một số khái niệm, thuật ngữ về môi trường sử dụng trong đề tài được hiểu theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 như sau: 2.1 Khái niệm về môi trường - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.2 Thành phần môi trường - Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.3 Ô nhiễm môi trường - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.4 Suy thoái môi trường - Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.5 Sự cố môi trường - Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.6 Chất gây ô nhiễm - Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm.7 Hoạt động bảo vệ môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.8 Phát triển bền vững Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.9 Quy chuẩn môi trường Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.10 Quan trắc môi trường Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấo thông tin phục vụ đánh gia hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.11 Quan trắc môi trường Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó 2.2 Nguồn gốc và tính chất của mực in Trong mực để in hộp giấy, túi giấy công nghiệp, ngoài màu mực, độ dày mực, thợ in còn quan tâm tới các chất có trong nó, điển hình là chất liên kết (hay còn gọi là chất tạo màng). Đây là chất quan trọng để tạo sự liên kết thấm ướt tốt trong in ấn.
Tính chất, công dụng Chất liên kết trong mực, hộp giấy, túi giấy tạo thành lớp bảo vệ và tránh sự cọ sát, va chạm trong quá trình in ấn sản phẩm. Chất liên kết bao quanh hạt pích măng và khi chất liên kết khô lại thì lúc này, hạt pích măng cũng đã bám chắc trên vật liệu in, phục vụ tối ưu cho nhu cầu in ấn.[12] Thành phần Hai thành phần chính trong chất liên kết là: Dầu và nhựa. Trong đó, nếu in tờ rơi, túi giấy thì thành phần dầu lanh có trong chất liên kết sẽ nhiều, còn nếu in offset giấy cuộn thì thành phần chủ yếu là dầu khoáng, in tờ rơi thì thành phần chất liên kết chiếm khoảng 55-75%. Các thành phần này có tính chất như sau: Dầu lanh: đây là loại dầu khô thực vật chứa 4,5-6% axit béo không no (axit panmatich và axit stêaric).
Trong quá trình in ấn, các axit béo h 5 không no này sẽ kết hợp với oxy không khí => tạo ra phản ứng oxy hoá khiến cho màng mực khô.[12] Dầu khoáng: Chất này thuờng sử dụng trong mực in offset giấy cuộn với mục đích là in sách. Nếu in thung carton gia re thì không sử dụng loại dầu này. Ngoài ra, khi dùng để in sách, thợ in sẽ dùng dầu khoáng nap then nhiều hơn. Bên cạnh đó, dầu khoáng cũng có thể dùng để sản xuất mực in dạng khô nhiệt, chúng sẽ không màu, không mùi, và sôi ở nhiệt độ 240 độ – 270 độ.
Nếu in báo thì dầu khoáng sẽ sôi ở nhiệt độ 300-350 độ C.[12] Nhựa: Thành phần thứ 3 trong chất liên kết chính là nhựa. Nhựa có thể đuợc chế biến từ nhựa thông hay nhựa tổng hợp, nhựa ankýt. Chúng đều có chung tính chất là dễ hoà tan trong dầu lanh và dầu khoáng, thuận lợi cho việc in ấn và tính chất hoá học của nhựa sau khi phản ứng với dầu lanh sẽ tao thành màng mực khô. Ngày nay, thợ in chủ yếu sử dụng nhựa ankýt để chế biến thành thành phần nhựa tinh chế trong mực in.
Kết hợp nhựa ankýt với dầu lanh sẽ sản xuất thành loại mực offset bóng, khô nhanh, làm tăng độ bền màng mực in, thời gian khô nhanh.3 Các ảnh hưởng tới môi trường của nước thải Nước là yếu tố vô cùng quan trọng không chỉ trong đời sống con người mà còn trong quá trình sản xuất công nghiệp. Nhìn chung, nếu không được kiểm soát thì nước thải công nghiệp có thể sẽ là nguồn ô nhiễm vô cùng độc hại. Vậy, nước thải trong sản xuất công nghiệp độc hại như thế nào? những tác hại của nước thải công nghiệp đến môi trường Các hợp chất hữu cơ và các kim loại nặng phát sinh từ các công đoạn sản xuất trong công nghiệp, nếu không được xử lý và thải ra môi trường bên ngoài thì có thể gây ra tác động đến sức khỏe con người và các thảm họa môi trường. Ngành công nghiệp phải có trách nhiệm đảm bảo chất lượng nước thải đầu ra nằm trong tiêu chuẩn cho phép và chấp nhận chi phí cho việc xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn.
Nước thải công nghiệp có thể chứa một loạt các chất gây ô nhiễm. Một số nguồn lớn nhất của chất thải công nghiệp độc hại bao gồm khai thác mỏ, nhà máy bột giấy, thuộc da, các nhà máy đường và sản xuất dược phẩm. Trong nhiều trường hợp, nước thải từ ngành công nghiệp không chỉ xả trực tiếp ra sông, hồ,… mà còn thấm xuống lòng đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và các giếng ngầm. Ở các nước đang phát triển, điều này thường khó để phát hiện khi việc quan trắc, giám sát thường khá tốn kém.
Ngay cả khi được phát hiện, việc xử lý có thể cũng vô cùng khó khăn.[11] Ô nhiễm từ nước dùng làm mát thiết bị trong sản xuất Nước dùng để làm mát cho các dây chuyền công nghiệp sản xuất thép và than cốc không chỉ tạo ra nước thải có nhiệt độ cao có thể gây ảnh hưởng đến hệ sinh vật, mà còn gây ra ô nhiễm với một loạt các chất độc hại, bao gồm cyanua, ammoiac, benzene, phenol,… Nước cũng được sử dụng như một chất bôi trơn máy móc công nghiệp và có thể trở nên ô nhiễm do các loại dầu thủy lực, thiết, crom, sắt sunphat,…[11] Ô nhiễm từ việc khai thác mỏ Khai thác mỏ truyền thống tạo ra lượng nước xả thải lớn mà không được kiểm soát tại một số nước đang phát triển. Chất thải từ các hoạt động khai thác khoáng sản có thể chứa bùn, đất đá, các chất hoạt động bề mặt. Tùy thuộc vào các loại quặng được khai thác, chất thải có thể chứa các kim loại nặng như đồng, chì, kẽm, thủy ngân, asen,… Các chất gây ô nhiễm trong chất thải mỏ có thể gây ung thư và gây ngộ độc thần kinh con người (như chì hoặc thủy ngân) hoặc rất độc hại cho sinh vật thủy sinh. Ngoài ra, khai thác mỏ ảnh hưởng đến quá trình thoát nước.