CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Năm 1959, di tích Phùng Nguyên được phát hiện khi xây dựng kênh thuỷ nông Lâm Hạc. Cùng năm đó, di tích Phùng Nguyên được khai quật. Đây có thể coi là mốc khởi đầu của quá trình nghiên cứu hệ thống di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ.
Từ đó đến năm 2022, hệ thống di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ đã trải qua 63 năm nghiên cứu, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quá trình nghiên cứu có thể chia thành 3 giai đoạn nghiên cứu như sau: Giai đoạn nghiên cứu 1: Từ năm 1959 đến năm 1971, đây là giai đoạn phát hiện và xác lập các văn hoá khảo cổ. Giai đoạn nghiên cứu 2: Từ năm 1972 đến năm 1995, đây là giai đoạn nghiên cứu làm rõ hơn các đặc trưng văn hoá, bổ sung những nhận thức mới và nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề cụ thể Giai đoạn nghiên cứu 3: Từ năm 1996 đến năm 2022, giai đoạn tổng kết các kết quả nghiên cứu. Giai đoạn nghiên cứu 1 (1959 – 1971) Vấn đề trọng tâm của giai đoạn này là làm rõ các đặc trưng di tích, di vật và định vị vai trò, vị trí của các di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ trong hệ thống các di tích tiền Đông Sơn ở Việt Nam.
Các di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ đóng góp tư liệu quan trọng trong việc xác lập 2 văn hóa thuộc thời đại đồng thau ở miền Bắc Việt Nam là văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Gò Mun. Sau phát hiện và khai quật di tích Phùng Nguyên, nhiều di tích khảo cổ thuộc giai đoạn tiền Đông Sơn được khai quật và nghiên cứu. Những di tích được khai quật và nghiên cứu trong giai đoạn này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ bao gồm: Phùng Nguyên (khai quật 3 lần các năm 1959, 1961, 1968), Gò Bông (khai quật 2 lần các năm 1965, 1967), Gò Đồng Xấu (1966), Xóm Rền (1969), An Đạo (1967), Khu Đường (1971), Gò Chùa (1967), Gò Con Lợn (1961), Hồng Đà (1969), Gò Mun (1961, 1964, 1969, 16 1971), Gò Chiền (1969) (Bảng 1 và xem thêm trong phần thông tin và hiện trạng di tích ở chương 2). Mỗi di tích đều được nghiên cứu làm rõ các đặc trưng về vị trí địa lý, đặc điểm di tích, di vật, niên đại và các mối tương quan đồng đại, lịch đại.
Những nghiên cứu đầu tiên về di tích Phùng Nguyên được đăng trên tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 11, tháng 2 năm 1960 với nhan đề “Trích đăng báo cáo về công tác phát hiện và thăm dò di chỉ tân thạch khí Cổ-Nhuế (Lâm-Thao, Phú-Thọ)” [Nguyễn Văn Nghĩa, 1960]. Đây là công bố đầu tiên đánh dấu sự khởi đầu quá trình nghiên cứu về các di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ. Bài viết thông báo các kết quả chính của cuộc khai quật, từ đó đưa ra những nhận định đầu tiên về di tích này, đánh giá vai trò của nó trong nhận thức lịch sử. Bài viết đã mô tả khách quan các thuộc tính của di tích khảo cổ học Phùng Nguyên như vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa tầng, phân loại các hiện vật thu được và nghiên cứu so sánh.
Trên cơ sở tài liệu lúc bấy giờ, người viết đã nhận định rằng: di tích Cổ Nhuế (tên gọi ban đầu của di tích Phùng Nguyên) muộn hơn văn hóa Bắc Sơn và sớm hơn văn hóa Đông Sơn. Đồng thời, bài viết cũng đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong những nghiên cứu tiếp theo. Có thể nói, việc phát hiện và công bố những ý kiến ban đầu về di tích Phùng Nguyên đã đặt những tiền đề đầu tiên, tạo ra một hệ quy chiếu cho những phát hiện sau này. Bài báo này cũng phản ánh phương pháp nghiên cứu khảo cổ học thời bấy giờ là phương pháp loại hình học, mô tả và nghiên cứu so sánh.
Cách thức nghiên cứu và cấu trúc trình bày như trên cho đến nay vẫn còn vô cùng đậm nét trong các công bố của khảo cổ học Việt Nam hiện đại. Ngay sau đó đã có bài viết trao đổi về di tích này, đó là trao đổi của Đào Tử Khai với nhan đề “Vài ý kiến góp về vấn đề di chỉ đồ đá mới Cổ-Nhuế (Lâm-Thao Phú – Thọ)”. Trao đổi của Đào Tử Khai đã góp sâu hơn vào niên đại của di tích, đồng tình với quan điểm muộn hơn Bắc Sơn sớm hơn Đông Sơn, nhưng ghi rõ là khoảng 4000 – 3000 năm cách ngày nay. Bài viết cũng lưu ý đến mối quan hệ giữa các văn hóa Long Sơn, Ngưỡng Thiều với Cổ Nhuế (Phùng Nguyên) và mối liên hệ giữa Cổ Nhuế với Hùng Vương, Văn Lang [Đào Tử Khai, 1960].
Tư liệu khai quật tại di tích 17 Cổ Nhuế được sử dụng làm minh chứng cho đời sống vật chất, tinh thần và trình độ phát triển của nhà nước Văn Lang [Văn Tân, 1960]. Sau cuộc khai quật đầu tiên tại di tích Phùng Nguyên, các di tích khảo cổ thời kỳ tiền Đông Sơn ở Phú Thọ thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử. Hàng loạt các di tích được phát hiện, thám sát và khai quật như Gò Đồng Xấu, Gò Bông, Xóm Rền, Gò Mun, Gò Chon, Chò Chiền, Gò Ghệ, Gò Dạ, Đồng Đậu Con, An Đạo, Khu Đường, Thọ Sơn, Ô Rô, Gò Chè, Đoan Thượng, Quang Húc… Thông qua các cuộc khai quật ở Phú Thọ và các địa phương khác là Hà Tây (cũ), Hà Nội, Bắc Giang những nhận thức về các di tích và các văn hóa tiền Đông Sơn ngày càng được củng cố. Công trình nghiên cứu mang tính khái quát đầu tiên có nhắc đến những di tích tiền Đông Sơn ở Phú Thọ là công trình “Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam” [Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh, 1963].
Trong công trình này, những di tích tiền Đông Sơn đã được nhắc đến và mô tả tương đối chi tiết là các di tích Phú Hậu (Gò Tro Trên, Gò Tro Dưới) và Việt Tiến (Gò Mun), Thanh Đình (Gò Ghệ, Gò Dạ). Trong công trình này các di tích nói trên đều được xếp vào văn hóa Đông Sơn. Năm 1964, kết quả nghiên cứu di tích Gò Mun được công bố. Ban đầu, Gò Mun được xếp vào thời đại đồng thau Đông Sơn do còn thiếu nhiều tư liệu để nghiên cứu so sánh.
Sau đó các nhà khảo cổ đã xác định Gò Mun có những đặc điểm chưa từng xuất hiện trong văn hóa Đông Sơn, đặc biệt là loại hình miệng gốm bẻ loe có trang trí, kiểu dáng và hoa văn trên chạc gốm [Nguyễn Linh, 1964]. Xác định những yếu tố khác biệt này là tiền đề cơ bản cho việc xác lập văn hóa Gò Mun sau này. Năm 1966, những cuộc khai quật quan trọng của Đội khảo cổ được tổng hợp trong công trình có tên “Một số báo cáo về khảo cổ học Việt nam”. Trong công trình đó có bài “Báo cáo đợt II khai quật di chỉ Phùng Nguyên”.
Bài viết đã đề cập đến quá trình phát hiện và khai quật di tích Phùng Nguyên, nêu rõ những phát hiện trong đợt khai quật lần thứ hai, khái quát những đặc trưng cơ bản của di tích, di vật. Trong bài viết này, khái niệm văn hóa Phùng Nguyên lần đầu tiên được đề xuất. Những đặc trưng của nền văn hóa này cũng được đề cập đó là sự khác biệt về đồ đá, đồ gốm với 18 các di tích ở những nơi khác đã được người Pháp phát hiện, đó là sự tồn tại của đồ đá kích thước nhỏ hình tứ giác và những đồ gốm có đồ án hoa văn đẹp. Văn hóa Phùng Nguyên lúc này được xếp vào giai đoạn hậu kỳ đá mới [Hoàng Xuân Chinh, 1966a].
Sau những nghiên cứu bước đầu đó, trong những năm tiếp theo các diễn đàn trao đổi học thuật của các nhà khảo cổ học ra đời. Năm 1966 lần đầu tiên hội nghị thông báo khảo cổ học được tổ chức. Một năm sau đó, năm 1967, hội nghị khoa học liên ngành “Hùng Vương dựng nước” lần thứ nhất được tổ chức. Từ đó, hội nghị thông báo khảo cổ học được duy trì hàng năm, hội nghị khoa học Hùng Vương dựng nước được tiếp tục tiến hành thêm 3 lần nữa cho đến năm 1971.
Năm 1969, tạp chí Khảo cổ học xuất bản số đầu tiên. Đây là nơi đăng tải những nghiên cứu chuyên sâu của ngành khảo cổ học. Trước đó những bài nghiên cứu khảo cổ học chủ yếu được xuất bản trên tạp chí1 Nghiên cứu lịch sử trong đó có các vấn đề về các di tích Tiền Đông Sơn ở Phú Thọ. Vấn đề đặc trưng của từng di tích và xác lập các văn hoá khảo cổ được các nhà nghiên cứu quan tâm và thảo luận sôi nổi.
Năm 1966 lần đầu tiên thuật ngữ Văn hoá Phùng Nguyên được Hoàng Xuân Chinh đề xuất. Những đặc trưng của văn hoá Phùng Nguyên cũng được đưa ra thảo luận với những đặc trưng gồm đồ đá nhỏ, tinh xảo, đồ gốm thô với hoa văn khắc vạch với những đồ án phong phú. Về niên đại Hoàng Xuân Chinh xếp văn hóa Phùng Nguyên vào giai đoạn hậu kỳ đá mới [Hoàng Xuân Chinh, 1966a]. Ở bài viết tiếp được in tiếp nối trong cùng sách Một số báo khảo cổ học Việt Nam, ông lại coi Phùng Nguyên là loại hình văn hóa, ông cũng nhấn mạnh đến sự phát triển đạt đến trình độ cao của kỹ thuật chế tác đồ đá và đồ gốm nói lên rằng Phùng Nguyên đã ở vào giai đoạn cuối của hậu kỳ đồ đá mới để chuyển sang thời đại kim khí [Hoàng Xuân Chinh, 1966b].
Năm 1967, các đặc trưng của văn hoá Phùng Nguyên được ông làm rõ hơn. Ông cho rằng văn hóa Phùng Nguyên có một số đặc trưng chính như: phân bố trên các doi đất cao hoặc đồi thấp ven sông, đều thuộc loại hình di chỉ ngoài trời, ông dùng khái niệm “đài hình di chỉ”; Tầng văn hóa tương 1 Trước năm 1963 là Tập san Nghiên cứu Lịch sử 19 đối mỏng, đất tầng văn hóa là đất phù sa màu vàng hơi nâu; đồ đá đạt đến trình độ phát triển đỉnh cao, thành thạo kỹ thuật khoan, cưa, mài; kích thước đồ đá nhỏ; Đồ gốm là loại gốm thô pha cát được chế tác bằng bàn xoay, mỏng với các loại hoa văn răng lược chải, khắc vạch, làn sóng, hoa văn đắp thêm…với các loại hình nồi, bát, bình, vật hình cốc, dọi se chỉ… Ông cho rằng văn hóa Phùng Nguyên có niên đại vào khoảng cuối hậu kỳ đá mới chuyển sang thời đại đồ đồng.