phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2. Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng ngữ pháp cho học sinh lớp 5 tỉnh Lào Cai Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái quát về ngữ pháp tiếng Việt 1. Khái quát về từ loại tiếng Việt 1) Khái niệm từ loại Nhƣ đã biết, việc phân loại từ có thể đƣợc thực hiện dựa vào những căn cứ khác nhau. Về ý nghĩa, có thể chia từ thành: từ đơn nghĩa, từ đa nghĩa. Về cấu tạo, có thể chia từ thành: từ đơn, từ phức (gồm từ ghép, từ láy).
Về phạm vi sử dụng, có thể phân chia từ thành: từ toàn dân, từ địa phương. Về nguồn gốc, có thể chia từ thành: từ thuần Việt và từ vay mượn. Ngoài cách phân loại từ dựa vào mặt cấu tạo trên đây còn có một cách phân loại từ dựa cả vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp. Cách phân loại này cho ta những lớp từ đƣợc gọi là từ loại.
Vậy, có thể định nghĩa: từ loại là những lớp từ được phân định dựa vào những đặc điểm chung về ý nghĩa và hình thức ngữ pháp. 2) Tiêu chuẩn phân loại từ tiếng Việt Có nhiều ý kiến khác nhau trong việc phân loại từ, trong luận văn này, chúng tôi tán thành chủ trƣơng phân loại từ dựa đồng thời vào cả hai mặt là ý nghĩa và hình thức ngữ pháp (đặc điểm hoạt động ngữ pháp) của từ. a) Về tiêu chuẩn ý nghĩa: Ý nghĩa đƣợc dùng làm tiêu chuẩn phân định từ loại là ý nghĩa ngữ pháp, tức là thứ ý nghĩa khái quát "đã ngữ pháp hoá". Khi nói đến ý nghĩa ngữ pháp, cần phân biệt hai loại: - Ý nghĩa ngữ pháp tự thân (ý nghĩa từ pháp) Đây là loại ý nghĩa ngữ pháp vốn có ở từ không phụ thuộc vào vị trí, chức vụ mà từ chiếm giữ trong câu.
- Ý nghĩa ngữ pháp quan hệ (ý nghĩa cú pháp) Đây là loại ý nghĩa ngữ pháp chỉ đƣợc xác định ở từ trong mối quan hệ cú pháp với từ khác trong câu. 7 Loại ý nghĩa đƣợc dùng làm tiêu chuẩn để phân định từ loại là ý nghĩa ngữ pháp tự thân (các kiểu nghĩa nhƣ: ý nghĩa sự vật, ý nghĩa hoạt động, ý nghĩa tính chất, ý nghĩa số lượng. b) Về tiêu chuẩn hình thức ngữ pháp (đặc điểm hoạt động ngữ pháp) Đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập (không biến hình), hình thức ngữ pháp của từ cần đƣợc hiểu là những đặc điểm thể hiện ra trong sự kết hợp của từ với từ. Đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ là toàn bộ những dấu hiệu hình thức có thể quan sát đƣợc phản ánh theo cách nào đó những đặc điểm nội dung (ý nghĩa) của từ.
Đối với tiếng Việt, đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ gồm: - Khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (nhƣ: ai, gì, nào, đâu, bao giờ, bao nhiêu, mấy. - Khả năng tham gia tổ chức các đơn vị cú pháp, (các kiểu cụm từ, câu), gồm: + Khả năng làm thành tố chính hay thành tố trung tâm của cụm từ + Khả năng làm thành tố phụ của cụm từ Theo các tiêu chí ý nghĩa và hình thức nêu trên, có thể xác định các diện đối lập cơ bản (các khối, lớp từ, các từ loại) dƣới đây: 3) Các diện đối lập cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng Việt Trƣớc hết, có thể chia kho từ vựng tiếng Việt thành hai khối chính: a) Khối thứ nhất: Khối này bao gồm các từ có ý nghĩa (từ vựng) cụ thể, chân thực và có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn. Đây là khối thực từ (ví dụ: nhà, học sinh, đi, ăn, to, đẹp, ba, bốn. b) Khối thứ hai: Khối này bao gồm các từ không có (hoặc có rất ít) nghĩa từ vựng và hoàn toàn không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn.
Đây là khối hư từ (ví dụ: đã, rất, của, bằng, à, ư, ôi, ái. Đối với các khối thực từ, có thể chia tiếp thành các lớp (các từ loại) sau: (1) Danh từ, (2) Động từ, (3) Tính từ, (4) Số từ, (5) Đại từ Đối với khối hƣ từ, có thể chia thành bốn lớp hay bốn từ loại: (6) Phó từ, (7) Quan hệ từ (kết từ, từ nối), (8) Trợ từ, (9) Thán từ. Hệ thống từ loại tiếng Việt đƣợc trình bày qua bảng sau. 8 Hệ thống từ loại tiếng Việt Kho từ vựng Thực từ Hƣ từ Danh Động Tính Số Phó Quan Trợ Thán từ từ từ từ từ hệ từ từ từ Đại từ 4) Một số vấn đề cần chú ý khi dạy học về từ loại ở trường phổ thông Khi dạy học tiếng Việt ở trƣờng phổ thông, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần lƣu ý nhƣ sau: Thứ nhất: Một đặc điểm quan trọng cần lƣu ý là sự đối lập không hoàn toàn rõ ràng giữa các từ loại.
đặc điểm này thể hiện ở khả năng chuyển loại phổ biến giữa các từ loại. Chẳng hạn, ở tiếng Việt, từ ở có thể là động từ (trong Nó đang ở Hà Nội) hoặc quan hệ từ (trong Nó sống ở Hà Nội). Tƣơng tự nhƣ vậy, cho, của, để, về… cũng có thể thuộc các loại từ khác nhau. So sánh: Kẻ có của, người có công.
- Tình thương của mẹ. Tôi cho bé mấy cái kẹo. - Tôi gửi thư cho mẹ. Bà ấy để tiền trong tủ.
- Học để hiểu biết. Tôi về quê. - Chúng tôi bàn về ngôn ngữ. Hiện tƣợng vừa chỉ ra thƣờng đƣợc gọi là hiện tƣợng “đồng âm cùng gốc khác loại”.
Đó là kết quả của hiện tƣợng chuyển loại (từ động từ hay danh từ sang quan hệ từ). Hiện tƣợng nêu trên đây đòi hỏi khi dạy về từ loại ở tiểu học, cụ thể là dạy học về quan hệ từ (kết từ), cần chú ý đến những từ đồng âm cùng gốc khác loại nhƣ đã chỉ ra. Cũng cần lƣu ý về tên gọi các từ loại: Một từ có thể đƣợc gọi bằng các thuật ngữ khác. Chẳng hạn, quan hệ từ còn đƣợc gọi là từ nối hay kết từ (theo cách gọi của Chƣơng trình 2018).
9 Thứ hai: Cũng về vấn đề từ loại, khi dạy về đại từ cần lƣu ý đến hệ thống đại từ xƣng hô trong tiếng Việt. Khác với ở nhiều ngôn ngữ, ở tiếng Việt, hệ thống đại từ xƣng hô không chỉ rất phong phú mà còn thƣờng gắn với sắc thái biểu cảm nhất định. Chẳng hạn, về số lƣợng, các đại từ xƣng hô ở ngôi một không những có số lƣợng khá lớn (tôi, ta, tớ, tao, mình) mà còn đƣợc bổ sung một số lƣợng không nhỏ các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc (ông, bà, cha, mẹ, bầm, má, tía, chú, cô, gì, anh, chị, em…) có thể đƣợc dùng lâm thời trong chức năng đại từ xƣng hô. Về sắc thái biểu cảm, đại từ xƣng hô tiếng Việt hầu nhƣ đều biểu thị một sắc thái tình cảm nhất định của ngƣời nói đối với ngƣời nghe hay ngƣời đƣợc nói đến.
Điều này giải thích vì sao, khi con xƣng hô với bố, mẹ, bác, chú hoặc thầy, cô (nói chung là ngƣời thuộc vai trên mà mình kính trọng), hầu nhƣ không thể dùng tôi. Việc chú ý dạy cho học sinh biết lựa chọn, sử dụng đại từ xƣng hô phù hợp với đối tƣợng, hoàn cảnh giao tiếp cũng là điều rất cần thiết trong dạy học về đại từ ở tiểu học. Một số vấn đề khái quát về câu 1) Khái niệm câu Có nhiều khuynh hƣớng khác nhau trong việc định nghĩa câu với một số cách định nghĩa cụ thể. Điều đó cho thấy những khó khăn, phức tạp của việc định nghĩa câu.
Có thể nói rằng đến nay, vẫn chƣa có đƣợc cách định nghĩa câu thoả mãn đƣợc tất cả hoặc hầu hết các nhà ngữ pháp. Trong điều kiện nhƣ vậy, việc lựa chọn cách định nghĩa nào đó phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập ngữ pháp. Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách định nghĩa câu dựa vào mặt khối lƣợng và chức năng (vì tính ngắn gọn, rõ ràng, hệ thống và tiện lợi của nó). Tuy nhiên, để tăng thêm tính hệ thống và giá trị phân loại của định nghĩa, chúng tôi tán thành cách diễn đạt theo đó, các đơn vị ngôn ngữ và câu sẽ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Âm vị là đơn vị khu biệt nghĩa nhỏ nhất của ngôn ngữ.
Hình vị là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của ngôn ngữ. Từ là đơn vị vận dụng độc lập nhỏ nhất của ngôn ngữ. Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ. Định nghĩa câu trên đây tƣơng đƣơng với định nghĩa vốn khá phổ biến: Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ mà có chức năng thông báo.
10 2) Các đặc trưng cơ bản của câu Với tƣ cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất, câu đƣợc xác định theo những đặc trƣng cụ thể sau: a) Về nội dung: Câu biểu thị một thông báo tƣơng đối hoàn chỉnh. Kèm theo nội dung thông báo, câu còn biểu thị mục đích, thái độ, tình cảm của ngƣời nói đối với nội dung nói năng hay đối với ngƣời nghe. b) Về cấu trúc (về hình thức bên trong) Ở dạng điển hình, câu đƣợc cấu tạo theo mô hình nhất định với nòng cốt là cụm chủ vị, tức là cấu trúc gồm chủ ngữ, vị ngữ (và các thành tố bổ sung có tính bắt buộc hay tự do cho chủ ngữ, vị ngữ). c) Về hình thức (hình thức bên ngoài hay về ngữ điệu) Câu luôn có ngữ điệu kết thúc (thể hiện trên chữ viết bằng dấu ngắt câu) và có thể kèm theo hƣ từ tình thái hay hƣ từ giao tiếp (à, ư, nhỉ, nhé, thôi, nào.
Trong các đặc trƣng trên đây, chỉ đặc trƣng thứ ba (hình thức) là có tính tuyệt đối, nghĩa là luôn có mặt; còn các đặc trƣng thứ nhất, thứ hai có thể vắng mặt hoặc thể hiện không đầy đủ. Những câu có cả ba đặc trƣng đƣợc coi là câu ở dạng cơ bản (điển hình, điển thể). Những câu thiếu các đặc trƣng thứ nhất và thứ hai đƣợc coi là những biến thể không cơ bản (không điển hình) của câu và sự tồn tại của chúng, nhìn chung, đều phụ thuộc vào ngữ cảnh. 3) Cấu trúc cú pháp của câu: các thành phần câu a) Khái niệm cấu trúc cú pháp của câu Trong luận văn này, cấu trúc cú pháp của câu đƣợc hiểu là sự tổ chức các từ trong câu theo các quy tắc cú pháp của ngôn ngữ nhất định nhằm biểu đạt một thông báo.