CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tự học và năng lực tự học 1. Khái niệm tự học Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tự học. Quan niệm về tự học, của Người quan rất rõ ràng: “Tự học là một cách học tự động” và “Phải biết tự động học tập”.
Theo Người, “tự động học tập” nghĩa là việc học một cách hoàn toàn tự giác và chủ động, không được ai nhắc và không được ai phân công nhiệm vụ mà tự mình chủ động xác định mục tiêu học tập cho bản thân và tự triển khai theo lộ trình học tập một cách tự giác và tự mình làm chủ thời gian đi học tập và tự bản thân kiểm giám sát việc học của bản thân. [13] Theo quan niệm của Knowles (1975), tự học là tiến trình mà cá nhân tổ chức và chuẩn bị các nguồn lực cần thiết cho việc hoàn thành nhiệm vụ, từ việc xác định mục tiêu, chuẩn bị nguồn nhân lực và vật lực cho việc học tập, chọn lựa phương pháp và kiểm soát kết quả. [28] Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Kỳ (1999): đã miêu tả rõ ràng về khía cạnh này khi chỉ ra rằng “Tự học là việc bạn tự đặt mình vào hoàn cảnh học tập, xử lý các tình huống và giải quyết vấn đề như một nhà nghiên cứu”. Việc tự học không chỉ giúp cho người học có kỹ năng và kiến thức vững chắc mà còn rèn luyện tính tự lực cũng như sự kiên trì, bền bỉ.
[11] Theo ông Nguyễn Cảnh Toàn thì tự học có thể hiểu ngắn gọn như sau: “Tự học là tự bản thân tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng những khả năng tư duy như phân tích, tổng hợp, suy luận, khái quát. và đôi khi là kết hợp với những khả năng của bản thân, thậm chí là tư tưởng và cảm xúc, kể cả nhận thức và tư duy nhằm tìm hiểu một lĩnh vực nào đấy của thế giới và đưa lĩnh vực ấy trở thành tri thức của nhân loại”. [23] Từ các khái niệm về tự học như trên, có thể thấy rằng “Tự học là việc người học nỗ lực chủ động để tự đi tìm tòi những kiến thức mới thông qua quá trình học tập của mình”. Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu như 10 sau: “Tự học là quá trình người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hoạt động học tập của bản thân”.
Vị trí vai trò của tự học Giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các học sinh khám phá một số đặc điểm và tính chất mới của những hiện tượng tự nhiên. Hơn nữa, trường học không phải là nơi trang bị kiến thức để sử dụng suốt đời mà kỹ năng tự học suốt đời mới là kho kiến thức vô tận. Các cơ hội học tập sẽ giúp cho học sinh tăng cường năng lực, điều chỉnh bản thân và trở thành những người có trách nhiệm với việc học của mình và với xã hội. Một số vai trò của tự học: - Tự học có vai trò quan trọng trong việc xây dựng phẩm chất tích cực và sự chủ động sáng tạo cho từng cá nhân.
Nó giúp mọi người có thể chủ động rèn luyện kỹ năng suốt cuộc đời để khẳng định được phẩm chất, năng lực của bản thân và để góp phần nhỏ bé của mình cho xã hội. - Tự học là yêu cầu cơ bản của quá trình dạy và học, bởi vì nó góp phần phát huy năng lực tự nhận thức của người học. Các nhà sư phạm đã nhận thức sâu sắc mục đích của phương pháp dạy tự học, đặc biệt là tính tự giác cùng thái độ tích cực chủ động sáng tạo. Điều này khơi dậy năng lực nội tại và tạo ra động lực học tập mạnh mẽ đối với người học.
- Tự học giúp mỗi cá nhân không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ trong cuộc sống hiện đại. Nếu rèn luyện được phương pháp và kỹ năng tự học, người học sẽ có lòng ham muốn tiếp thu kiến thức mới và áp dụng vào thực tiễn để ngày càng hoàn thiện kết quả của mình. Như vậy, tự học là xu hướng tất yếu trong tiến trình giáo dục khi đưa người học từ đối tượng giáo dục trở thành chủ thể giáo dục và là một trong những kỹ năng cơ bản nhất mà nhà trường cần bồi dưỡng đối với học sinh. Vì thế cần thực hiện tốt phương thức tự học và khơi dậy tinh thần tự giác sẽ góp 11 phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hiệu quả giáo dục của nhà trường.
Các kỹ năng cơ bản của hoạt động tự học Tác giả Nguyễn Thị Thu Ba (2016) phân chia quá trình tự học thành các loại kỹ năng chính sau [3]: - Kỹ năng định hướng: Trước hết, muốn quá trình tự học xảy ra hiệu thành công người học cần xác lập cơ sở định hướng của hành động. Để có được cơ sở định hướng thì người học cần giải đáp được những câu sau: Học vì mục tiêu gì? Thái độ học tập ra làm sao? Học như thế nào? [3] - Kỹ năng xây dựng kế hoạch học tập: Mọi việc sẽ đơn giản hơn bao giờ hết nếu người học xác định được mục đích, phương pháp và cách thức học. Muốn vậy, người học cần lập được kế hoạch học tập. Trên cơ sở ra bộ khung đã được xây dựng sẵn để người học có thể tiếp thu và lĩnh hội tri thức được nhanh chóng [3].
Để tiến hành thành công kế hoạch bản thân đã xác lập thì người học phải có một số kỹ năng như: Tiếp nhận thông tin: Tìm kiếm và chủ động thu thập thông tin qua nhiều kênh khác nhau và thực hiện các mục tiêu đã được xác lập thông qua đọc sách báo, bài viết, xem tivi hay tìm kiếm trên Internet hoặc làm thực nghiệm. Xử lí thông tin: quá trình này có thể được thực hiện qua những kỹ năng thu thập, phân loại và đánh giá, so sánh, tổng hợp và đối chiếu. Vận dụng tri thức và thông tin: biểu hiện bằng việc ứng dụng thông tin tri thức khoa học vào xử lý những công việc cụ thể như làm bài, tranh luận và giải quyết những vấn đề hay soạn bài luận. Trao đổi và chia sẻ thông tin: việc rút ra và phổ biến thông tin tri thức qua những hoạt động như hỏi đáp, trình bày hay thảo luận.
là bước cuối của quá trình tiếp thu tri thức. [3] - Kỹ năng tự nhận xét, đánh giá và đúc rút kiến thức: Một khi người học đã đánh giá được quá trình học tập của bản thân thì người đọc sẽ tự cảm 12 đánh giá được quá trình học tập của mình và biết được những điều bản thân làm được và những gì bản thân không làm được để qua đó có hướng khắc phục hoặc cải thiện. Khái niệm năng lực tự học * Năng lực Thuật ngữ về năng lực được đề cập khá lâu và đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến nhưng tính thời điểm hiện tại để tìm một định nghĩa cho năng lực thực sự là một vấn đề nan giải nhất là đối với ngành giáo dục. Trong phân tích của Christian Delory (2000) dựa trên tầm nhìn chung về dạy học những môn giáo dục phổ thông nói về năng lực là “tổng hợp tất cả những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng xã hội để thích ứng, xử lý tình huống và thực hiện công việc theo một cách nào đấy” [25] Theo Coolahan (1989) NL được hiểu đơn giản là “các năng lực được hình thành trên nền tảng kiến thức và kỹ năng phản ánh những tính cách và phẩm chất của một con người được phát triển qua thực tiễn giáo dục”.
[26] Theo đề án giáo dục toàn diện 2018 của Ngành giáo dục thì: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có cùng quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động cụ thể và đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện nhất định”. [1] Năng lực của bản thân giúp cho HS đạt được kết quả mong đợi. Đỗ Đức Thái (2019) nói về “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người phát huy tối đa những kiến thức, kỹ năng cùng những thuộc tính cá nhân khác ví như ý chí, lòng quyết tâm và nghị lực,. thực hiện thành công một loại hoạt động cụ thể và đạt kết quả mong muốn theo từng điều kiện nhất định”.
[21] Năng lực cao sẽ giúp HS đạt kết quả cao, hiệu quả học tốt. Trong luận văn trên chúng tôi đồng quan điểm rằng “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển từ tố chất vốn có thông qua quá trình học tập, rèn luyện nhằm cho phép con người phát huy tối đa những kiến 13 thức, kỹ năng cùng những thuộc tính cá nhân nhất định như ý chí, lòng quyết tâm và nghị lực,. thực hiện thành công một loại hoạt động cụ thể và đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện nhất định”. * Năng lực tự học Holec (1981) chỉ ra: “Năng lực tự học là khả năng tự quản lý việc học của bản thân mình”.
[27] Từ các định nghĩa trên ta dễ thấy rằng năng lực tự học là thuộc tính cá nhân. Đó là việc chủ thể khai thác và thực hiện những kỹ năng tư duy, cá thể phối hợp với động lực, quyết tâm, thái độ và năng lực. nhằm tiến hành những hoạt động chiếm lĩnh kiến thức và làm cho người học chủ động đạt đến các đòi hỏi do nghề nghiệp đề ra. Năng lực tự học bao gồm những thành tố như cách học, kỹ năng học và phương pháp học, theo đó người có năng lực tự học sẽ tương ứng với khả năng lựa chọn đúng cách học và các phương pháp học thích hợp nhằm tham gia vào quá trình học tập hữu hiệu đối với hầu hết những trường hợp và vấn đề khác nhau.
Năng lực tự học là khả năng của cá nhân người học tự giải quyết các vấn đề xảy ra một cách đơn giản và hữu hiệu thông qua việc vận dụng tri thức đã học giải quyết những vấn đề thông qua các hoạt động thực tế nhằm khám phá môi trường chung quanh và có khả năng thay đổi nó. Chương trình GDPT 2018 xây dựng và trang bị cho học sinh các năng lực chung được phân ra làm hai nhóm là năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù. theo mô hình sau: 14 Hình 1.