Luận văn thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập giải hệ phương trình nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh khá giỏi lớp 9 trường trung học cơ sở

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập giải hệ phương trình nhằm cải thiện năng lực tư duy sáng tạo, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2014

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Học Lớp 9

Phát triển tư duy sáng tạo là mục tiêu quan trọng trong giáo dục toán học, đặc biệt đối với học sinh khá giỏi lớp 9. Nó không chỉ giúp học sinh giải quyết các bài tập giải hệ phương trình một cách hiệu quả, mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để đối mặt với các vấn đề phức tạp trong cuộc sống. Tư duy sáng tạo trong toán học bao gồm khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa và đặc biệt là khả năng tìm ra những cách giải mới, độc đáo cho các bài toán. Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cần được thực hiện một cách có hệ thống thông qua các bài tập toán khó lớp 9 được thiết kế phù hợp. Theo Nguyễn Cảnh Toàn, “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới”. Vì thế, hệ thống bài tập đóng vai trò then chốt.

1.1. Vai Trò Của Bài Tập Toán Trong Tư Duy Sáng Tạo

Bài tập toán không chỉ là công cụ để kiểm tra kiến thức, mà còn là phương tiện để kích thích tư duy phản biện, khả năng phân tíchkỹ năng giải quyết vấn đề. Bài tập giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, khám phá các mối liên hệ giữa các khái niệm toán học khác nhau, và tìm ra những cách tiếp cận mới cho bài toán. Đặc biệt, những bài tập vận dụng cao đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ độc lập, sáng tạo để tìm ra lời giải. Việc này sẽ giúp học sinh nâng cao tư duy toán học và phát triển khả năng sáng tạo của mình. Bài tập nên đa dạng về loại hình và độ khó để phù hợp với trình độ của học sinh khá giỏi lớp 9.

1.2. Đặc Điểm Tư Duy Sáng Tạo Của Học Sinh Khá Giỏi Toán 9

Học sinh khá giỏi lớp 9 thường có khả năng tiếp thu kiến thức nhanh, tư duy logic tốt và có niềm đam mê với toán học. Tuy nhiên, để phát triển tư duy sáng tạo một cách tối đa, cần tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự khám phá, thử nghiệm và chấp nhận rủi ro. Các em cần được khuyến khích đặt câu hỏi, phản biện và đưa ra những ý tưởng mới. Việc đánh giá không nên chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng mà còn phải chú trọng đến quá trình suy nghĩ và cách tiếp cận vấn đề của học sinh. Cần tạo điều kiện cho học sinh tự học, tự nghiên cứu và chia sẻ kiến thức với bạn bè.

II. Thách Thức Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Giải Hệ Phương Trình

Việc phát triển tư duy sáng tạo qua bài tập giải hệ phương trình cho học sinh khá giỏi lớp 9 đối mặt với nhiều thách thức. Một trong số đó là sự khô khan, trừu tượng của toán học, khiến học sinh khó cảm thấy hứng thú và động lực để suy nghĩ sáng tạo. Thêm vào đó, chương trình học hiện nay thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng giải toán theo khuôn mẫu, ít chú trọng đến việc khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo. Giáo viên cũng có thể gặp khó khăn trong việc thiết kế các bài tập toán khó lớp 9 đủ sức thách thức học sinh, đồng thời đảm bảo tính khả thi và phù hợp với trình độ của các em. Đôi khi, áp lực thi cử cũng khiến giáo viên và học sinh tập trung vào việc luyện thi hơn là phát triển tư duy.

2.1. Áp Lực Thi Cử Và Khuynh Hướng Giải Toán Theo Khuôn Mẫu

Áp lực từ các kỳ thi tuyển sinh, đặc biệt là thi vào lớp 10 THPT và các trường chuyên, khiến cả giáo viên và học sinh tập trung vào việc ôn luyện kiến thức và rèn luyện kỹ năng giải toán theo các dạng bài quen thuộc. Điều này hạn chế sự sáng tạo và khả năng tư duy độc lập của học sinh. Thay vì khuyến khích học sinh tìm tòi những cách giải mới, giáo viên thường hướng dẫn học sinh giải toán theo các phương pháp giải toán sáng tạo đã được chứng minh là hiệu quả, nhưng lại ít có tính sáng tạo. Do đó, học sinh mất đi cơ hội để phát triển tư duy sáng tạokỹ năng giải toán.

2.2. Thiếu Hụt Bài Tập Giải Hệ Phương Trình Đủ Sức Thử Thách

Số lượng bài tập giải hệ phương trình có tính sáng tạo và thử thách cao trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo còn hạn chế. Các bài tập thường tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng giải toán cơ bản, ít có tính ứng dụng thực tế và khuyến khích sự khám phá. Điều này khiến học sinh khó có cơ hội để vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề phức tạp và phát triển tư duy sáng tạo của mình. Cần có sự đầu tư nhiều hơn vào việc biên soạn và cung cấp các bài tập toán khó lớp 9 có tính sáng tạo, thử thách và gắn liền với thực tế.

III. Phương Pháp Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Giải Hệ Phương Trình

Để phát triển tư duy sáng tạo qua bài tập giải hệ phương trình cho học sinh khá giỏi lớp 9, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình khám phá và xây dựng kiến thức. Một trong số đó là phương pháp dạy học theo dự án, trong đó học sinh được giao một nhiệm vụ cụ thể liên quan đến ứng dụng hệ phương trình trong thực tế và phải tự tìm tòi, nghiên cứu để giải quyết vấn đề. Ngoài ra, phương pháp dạy học theo nhóm cũng giúp học sinh học hỏi lẫn nhau, chia sẻ ý tưởng và cùng nhau tìm ra những cách giải mới. Quan trọng là giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy độc lập và sáng tạo.

3.1. Sử Dụng Phương Pháp Đặt Ẩn Phụ Giải Hệ Phương Trình

Phương pháp đặt ẩn phụ là một kỹ thuật quan trọng trong giải hệ phương trình, giúp đơn giản hóa bài toán và tạo ra những cách tiếp cận mới. Học sinh cần được rèn luyện kỹ năng lựa chọn ẩn phụ phù hợp, biến đổi phương trình và giải hệ phương trình mới. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh giải quyết các bài toán phức tạp mà còn phát triển tư duy phân tích, tổng hợpkhả năng dự đoán. Ví dụ, khi gặp một hệ phương trình chứa căn, việc đặt ẩn phụ có thể giúp loại bỏ căn và đưa bài toán về dạng đơn giản hơn.

3.2. Áp Dụng Bất Đẳng Thức Để Giải Hệ Phương Trình Khó

Việc sử dụng bất đẳng thức trong giải hệ phương trình là một kỹ thuật nâng cao, đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững chắc về bất đẳng thức và khả năng vận dụng linh hoạt. Học sinh cần được rèn luyện kỹ năng nhận diện các dấu hiệu có thể áp dụng bất đẳng thức, lựa chọn bất đẳng thức phù hợp và chứng minh bất đẳng thức. Kỹ thuật này giúp học sinh phát triển tư duy logic, khả năng chứng minhkỹ năng giải quyết vấn đề. Nhiều hệ phương trình vô tỷ có thể được giải quyết hiệu quả bằng cách sử dụng bất đẳng thức để đánh giá và tìm ra nghiệm.

3.3. Biến Đổi Tương Đương và Tính Chất Hệ Phương Trình

Để giải toán bằng cách lập hệ phương trình, học sinh cần nắm vững kiến thức về các biến đổi tương đương, các tính chất và quy tắc của hệ phương trình để phân tích và biến đổi bài toán gốc thành bài toán đơn giản hơn. Các bài tập thực tế, bài tập ứng dụng đòi hỏi học sinh phải biết cách tư duy phản biện để nhận diện và giải quyết vấn đề. Khi các em nắm bắt tốt các công cụ hỗ trợ, các em có thể giải quyết bài toán theo hướng tối ưu nhất.

IV. Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Giải Hệ Phương Trình Sáng Tạo

Một hệ thống bài tập giải hệ phương trình hiệu quả cần đảm bảo tính đa dạng, phong phú và phù hợp với trình độ của học sinh khá giỏi lớp 9. Các bài tập nên được thiết kế theo mức độ từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao, để học sinh có thể từng bước làm quen với các kỹ thuật giải toán khác nhau. Ngoài ra, cần có sự kết hợp giữa các bài tập lý thuyết và bài tập thực hành, giữa các bài tập giải toán theo khuôn mẫu và các bài tập toán khó lớp 9 có tính sáng tạo, thử thách. Quan trọng là các bài tập phải có tính ứng dụng thực tế, giúp học sinh thấy được sự liên hệ giữa toán học và cuộc sống.

4.1. Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Giải Hệ Phương Trình Cơ Bản

Các bài tập này tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng giải hệ phương trình bằng phương pháp thế, phương pháp cộng đại sốphương pháp đặt ẩn phụ. Học sinh cần được luyện tập giải các hệ phương trình bậc nhất hai ẩn đơn giản, các hệ phương trình bậc hai có thể đưa về dạng bậc nhất và các hệ phương trình đối xứng loại 1, hệ phương trình đối xứng loại 2. Mục tiêu là giúp học sinh nắm vững các kỹ năng giải toán cơ bản và tạo nền tảng cho việc giải các bài toán phức tạp hơn.

4.2. Bài Tập Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Biến Đổi Và Giải

Các bài tập này đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã học, kết hợp với tư duy sáng tạo để tìm ra những cách giải mới, độc đáo. Ví dụ, các bài tập có thể yêu cầu học sinh biến đổi phương trình, sử dụng bất đẳng thức, áp dụng phương pháp lượng giác hóa hoặc tìm ra các mối liên hệ giữa các khái niệm toán học khác nhau. Mục tiêu là giúp học sinh phát triển tư duy phân tích, tổng hợp, khả năng dự đoánkỹ năng giải quyết vấn đề.

V. Ứng Dụng Thực Tế Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán 9 Sáng Tạo

Việc ứng dụng hệ thống bài tập giải hệ phương trình vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi toán 9 cần được thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo. Giáo viên cần lựa chọn các bài tập phù hợp với trình độ và năng lực của từng học sinh, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tự học, tự nghiên cứu và chia sẻ kiến thức với bạn bè. Ngoài ra, cần khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi toán học để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và phát triển tư duy sáng tạo của mình. Theo Nguyễn Văn Hiến, cần “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập giải hệ phương trình nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh khá giỏi lớp 9 trường Trung học cơ sở”.

5.1. Khai Thác Đa Dạng Cách Giải Cho Một Bài Toán

Rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy, từ đó tăng khả năng sáng tạo. Cần hướng dẫn học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau cho cùng một bài toán, phân tích ưu nhược điểm của từng cách giải và lựa chọn cách giải tối ưu nhất. Điều này giúp học sinh hiểu sâu hơn về bản chất của bài toán và phát triển tư duy phản biện. Ví dụ, một bài toán có thể được giải bằng phương pháp thế, phương pháp cộng đại số hoặc phương pháp đặt ẩn phụ, mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng.

5.2. Hướng Dẫn Học Sinh Tự Sáng Tạo Bài Toán Mới

Nghiên cứu lời giải bài toán đã giải nhằm rèn luyện tính độc lập trong tư duy. Khuyến khích học sinh tự đặt ra các bài toán tương tự, thay đổi các điều kiện của bài toán ban đầu hoặc mở rộng bài toán sang các lĩnh vực khác. Điều này giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo, khả năng khái quát hóakỹ năng tự học. Học sinh hoàn toàn có thể tạo ra một số dạng hệ phương trình mới dựa trên kiến thức đã có.

VI. Kết Luận Và Hướng Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Học

Phát triển tư duy sáng tạo qua bài tập giải hệ phương trình là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ quan trọng, giúp trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để đối mặt với các thách thức trong cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Trong tương lai, cần có sự đầu tư nhiều hơn vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học sáng tạo, các tài liệu học tập phong phú và đa dạng, cũng như các hoạt động ngoại khóa hấp dẫn để khuyến khích tư duy sáng tạo của học sinh khá giỏi lớp 9. Cần cập nhật phương pháp giảng dạy và xây dựng nội dung đáp ứng sự thay đổi của chương trình giáo dục phổ thông.

6.1. Đánh Giá Và So Sánh Hiệu Quả Các Phương Pháp

Thực hiện đánh giá kết quả học tập trước và sau khi áp dụng các phương pháp giảng dạy và luyện tập đã nêu. Điều này giúp giáo viên và học sinh có thể điều chỉnh các công cụ, phương pháp giảng dạy và học tập cho phù hợp với mục tiêu giảng dạy và học tập, nhằm đạt hiệu quả tốt nhất trong học tập.

6.2. Tiếp Tục Nghiên Cứu Và Phát Triển Các Bài Tập Sáng Tạo

Liên tục cập nhật và phát triển thêm các dạng bài tập mới và sáng tạo để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Các bài tập nên đa dạng về loại hình, độ khó và tính ứng dụng, giúp học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu và phát triển tư duy sáng tạo một cách toàn diện. Bên cạnh đó, nên tham khảo các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, các đề thi vào các trường chuyên để có nguồn tài liệu phong phú.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO 1. Đại cương về tư duy sáng tạo 1. Tư duy Theo từ điển tiếng Việt “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [17, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Quang Lũy, Đinh Văn Vang “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [24, tr.

Trong cuốn: “Rèn luyện tư duy trong dạy học toán” tác giả Trần Thúc Trình có định nghĩa: “Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết” [23]. Theo một nghiên cứu về tư duy của X.L Rubinstein thì “Tư duy đó là sự khôi phục trong ý nghĩa của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” (dẫn theo Đavưđov) [26, tr.25] Theo một định nghĩa khác, “Tư duy” là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Hoạt động của tư duy dựa trên cơ chế hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định.

Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của mỗi người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân, vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông qua hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩn có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.so Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý, hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý, là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở các động vật cao cấp, đặc biệt biểu hiện rõ ở thú linh trưởng và ở người.

Nhưng tư duy với tư cách là hoạt động tâm lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con người, và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người. Từ chỗ là một loại động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai chính là tư duy; với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức được bản chất của hiện tượng, quy luật của tự nhiên và nhận thức được chính bản thân mình. Qua phân tích một số quan điểm về tư duy ở trên, chúng tôi hiểu về tư duy như sau: “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà ta chưa từng biết” Tư duy là hoạt động trí tuệ với một quá trình gồm bốn bước cơ bản sau: - Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy. Nói cách khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp.

- Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thiết về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi. - Xác minh giả thiết trong thực tiễn. Nếu giả thiết không đúng thì qua bước sau, nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thiết mới. - Quyết định đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng.

Sáng tạo Theo định nghĩa trong từ điển: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết vấn đề mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có” [17, tr. Theo Bách Khoa toàn thư: “Sáng tạo là hoạt động của con người trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người, sáng tạo là hoạt động có tính đặc trưng không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất”. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới”, cũng theo tác giả thì 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.so “Người có óc sáng tạo là người có kinh nghiệm về phát triển và giải quyết vấn đề” [22, tr. Như vậy, hiểu một cách ngắn gọn, sáng tạo có thể được coi là quá trình tiến tới cái mới, là năng lực tạo ra cái mới có giá trị.

Đối với Toán học, tác giả Trần Thúc Trình đã cụ thể hóa sự sáng tạo với người học toán: “Đối với người học toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ đương đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhận được cái mới mà họ chưa từng biết” [23]. Như vậy một bài tập cũng được xem như là mang yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đó chi phối (từng phần hay toàn phần), tức là nếu người giải chưa biết trước thuật toán để giải và phải tiến hành tìm hiểu những bước đi chưa biết trước. Tư duy sáng tạo 1. Các quan điểm về tư duy sáng tạo Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tư duy sáng tạo.

Theo tâm lý học: “Tư duy sáng tạo là tư duy vượt ra ngoài phạm vi giới hạn của hiện thực, của vốn kinh nghiệm và tri thức đã có, giúp quá trình giải quyết nhiệm vụ của tư duy được linh hoạt hiệu quả”. Theo tác giả Tôn Thân: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao”. Cũng theo tác giả “Tư duy sáng tạo là tư duy độc lập và nó không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có. Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp.

Mỗi sản phẩm của tư duy sáng tạo đều mang rất đậm các dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó”. Trong bộ môn toán theo G. Polya: “Một tư duy gọi là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó. Có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán khác.

Các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số lượng càng lớn, có dạng muôn màu, muôn vẻ thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao” [7]. Việc làm của người giải có thể là sáng tạo một cách gián tiếp, ví dụ một bài toán được đặt ra tuy chưa giải được nhưng có thể là gợi ý cho người khác có suy nghĩ hiệu quả hơn. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.so Đối với học sinh, có thể nói đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá, tự tìm cách giải quyết một bài toán mà học sinh đó chưa biết đến hoặc đã biết nhưng làm theo phương thức khác. Bắt đầu từ tình huống gợi vấn đề, tư duy sáng tạo giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong tình huống đó với hiệu quả cao, thể hiện tính mới lạ độc đáo, khả thi.

Một số thành tố đặc trưng của tư duy sáng tạo Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học về cấu trúc của tư duy sáng tạo đã đưa ra năm thành tố cơ bản: Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tính hoàn thiện. Tính mềm dẻo Đó là năng lực dễ dàng làm thay đổi các trật tự của hệ thống tri thức, có khả năng bao quát sự vật hiện tượng theo nhiều khía cạch khác nhau, có thể định nghĩa lại sự vật hiện tượng, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong các mối quan hệ mới. Tính mềm dẻo của tư duy có các đặc trưng nổi bật: - Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, vận dụng linh hoạt các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, đặc biệt hóa và các phương pháp suy luận như quy nạp, diễn dịch, tương tự. - Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm kiến thức, kĩ năng đã có với hoàn cảnh mới trong đó có nhiều yếu tố đã thay đổi không có ảnh hưởng từ những kinh nghiệm, cách suy nghĩ, phương pháp đã có từ trước.

- Nhận ra những vấn đề mới trong điều kiện cũ, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng đã quen biết. Như vậy, để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh giáo viên có thể cho các em giải một số bài tập mà thông qua đó rèn luyện được tính mềm dẻo của tư duy. Tính nhuần nhuyễn Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.so Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng.

Số ý tưởng được nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo. Trong trường hợp này có thể nói số lượng làm nảy sinh chất lượng. Tính nhuần nhuyễn của tư duy được thể hiện rõ ở hai đặc trưng sau: - Tính đa dạng của cách xử lý khi giải toán, khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau. Đứng trước một vấn đề cần giải quyết người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm ra và đề xuất được nhiều phương án khác nhau và từ đó tìm ra được phương án tối ưu.

- Khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau và có cái nhìn sinh động từ nhiều phía đối với sự vật hiện tượng chứ không phải cái nhìn bất biến, phiến diện, cứng nhắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Qua Hệ Thống Bài Tập Giải Hệ Phương Trình Cho Học Sinh Khá Giỏi Lớp 9" tập trung vào việc nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của học sinh thông qua các bài tập giải hệ phương trình. Tài liệu này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề mà còn khuyến khích sự sáng tạo trong tư duy toán học. Bằng cách áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, tài liệu cung cấp cho giáo viên những công cụ hữu ích để hướng dẫn học sinh một cách hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về phát triển tư duy toán học, bạn có thể tham khảo tài liệu Rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh cấp trung học cơ sở trong dạy học giải các bài toán về phương trình, nơi cung cấp các phương pháp cụ thể để rèn luyện tư duy cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn về phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh thông qua dạy học bài toán thực tế cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách áp dụng toán học vào thực tiễn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tốt nghiệp đhsp rèn luyện năng lực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy học bài tập hình học không gian sẽ mang đến những góc nhìn mới về việc phát triển tư duy sáng tạo trong học sinh thông qua hình học. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề này.