Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề cơ bản về tư duy 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”. Theo Từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”.(1) Theo quan niệm của Tâm lý học: Tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác.
Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tính có vấn đề Khi gặp những tình huống mà vấn đề hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã biết của chúng ta không đủ giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấn đề”, và chúng ta phải cố vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới, hay nói cách khác chúng ta phải tư duy. b) Tính khái quát Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tượng. Do đó, tư duy mang tính khái quát.
c) Tính độc lập tương đối của tư duy Trong quá trình sống con người luôn giao tiếp với nhau, do đó tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác SVTT: Nguyễn Văn Hiền 7 Khóa luận tốt nghiệp động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định. Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập tương đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó.
Tư duy cũng chịu ảnh hưởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tư duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người. Đó chính là tính độc lập tương đối của tư duy. d) Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ.
Kết quả tư duy được ghi lại bằng ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy. Ở thời kỳ sơ khai, tư duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người và từng bước được ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng.
Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động. e) Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.
Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng. được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, SVTT: Nguyễn Văn Hiền 8 Khóa luận tốt nghiệp không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật.
Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tư duy trừu tượng. Phân loại tư duy Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất khi phân loại tư duy. Tuy nhiên, có hai cách phân loại tư duy phổ biến nhất, đó là: a) Phân loại tư duy theo đối tượng (của tư duy): Với cách phân loại này, ta có các loại tư duy sau: - Tư duy kinh tế, - Tư duy chính trị, - Tư duy văn học, - Tư duy toán học, - Tư duy nghệ thuật, … b) Phân loại tư duy theo đặc trưng của tư duy: Với cách phân loại này, ta có các loại tư duy sau: - Tư duy cụ thể, - Tư duy trừu tượng, - Tư duy logic, - Tư duy biện chứng, - Tư duy sáng tạo, - Tư duy phê phán, … 1. Tư duy sáng tạo 1.
Tư duy sáng tạo “Sáng tạo” hiểu theo Từ điển tiếng Việt là tạo ra giá trị mới về vật chất và tinh thần. Tìm ra cách giải quyết mới, không bị gò bó hay phụ thuộc vào cái đã có. Hoặc theo Đại từ điển tiếng Việt, sáng tạo là làm ra cái mới chưa ai làm. Tìm tòi làm tốt hơn mà không bị gò bó.
SVTT: Nguyễn Văn Hiền 9 Khóa luận tốt nghiệp Theo Lecne thì có hai kiểu tư duy cá nhân: “Một kiểu là tư duy tái hiện hay tái tạo, kiểu kia gọi là tư duy tạo ra cái mới hay sáng tạo”. Tư duy sáng tạo là tư duy mà kết quả là tạo được một cái gì đó mới. Tư duy sáng tạo dẫn đến tri thức mới về thế giới hoặc về phương thức hoạt động mới. Tư duy sáng tạo là quá trình tìm cách nhận thức, phát hiện ra quy luật của sự vật, có ý thức luôn tìm ra cái mới để hiểu rõ hơn bản chất của sự vật, hiện tượng cũng như tìm ra nguyên nhân, ngăn chặn, loại bỏ cái xấu và phát triển cái tốt.
Như vậy, tư duy sáng tạo là một thuộc tính bản chất của con người để tồn tại và phát triển những gì tốt đẹp và loại bỏ, ngăn chặn những điều có hại đối với con người. Tư duy sáng tạo có tính khởi đầu, sản sinh ra một sản phẩm phức tạp. Tư duy sáng tạo có tính phát minh, trực giác tưởng tượng và phát triển liên tục. Kiến thức trước đó được tổng hợp và mở rộng để sản sinh ra những ý tưởng mới.
Và những ý tưởng mới này chịu sự phân tích, phê phán và tính hiệu quả của chúng được xét đến trong việc giải quyết bài toán. Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo a) Tính nhuần nhuyễn Tính nhuần nhuyễn trong tư duy có thể được sử dụng một cách dễ dàng, thoải mái, một cách tự nhiên trong quá trình suy nghĩ để phát hiện và nhận thức bản chất của sự vật. Tính nhuần nhuyễn được thể hiện ở việc vận dụng các thao tác tư duy đạt đến mức độ thành thạo một cách tự nhiên nhằm tạo ra một số ý tưởng để giải quyết vấn đề, nhanh chóng đưa ra giả thuyết, ý tưởng mới và số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo. Mặt khác, tính nhuần nhuyễn còn được thể hiện ở chỗ khả năng tìm ra được nhiều giải pháp trên nhiều tình huống, góc độ, khía cạnh khác nhau, từ đó tìm ra được phương án tối ưu.
SVTT: Nguyễn Văn Hiền 10 Khóa luận tốt nghiệp - Ví dụ: Cho tứ diện đều ABCD. M là một điểm bất kỳ trong hình tứ diện. Chứng minh rằng tổng khoảng cách từ M đến bốn mặt của hình tứ diện là một số không đổi, không phụ thuộc vào vị trí của điểm M ở trong hình tứ diện đó. Đứng trước bài toán này, tính nhuần nhuyễn của học sinh được thể hiện ở chỗ: + Liên tưởng đến bài toán tương tự trong mặt phẳng: “Cho tam giác đều ABC.
M là một điểm bất kỳ trong tam giác. Chứng minh rằng tổng khoảng cách từ M đến các cạnh là một số không đổi, không phụ thuộc vào vị trí điểm M”. + Biết xét trường hợp đặc biệt khi M trùng với một đỉnh của hình tứ diện để chỉ ra rằng: “Tổng khoảng cách này đúng bằng chiều cao của hình tứ diện đều”. + Hoặc đặc biệt hóa khi M ≡ G là trọng tâm của hình tứ diện đều.
b) Tính linh hoạt Tính mềm dẻo và tính linh hoạt thể hiện khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, chuyển từ đối tượng suy nghĩ này sang đối tượng suy nghĩ khác; biết thay đổi phương pháp cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, không bị gò bó, rập khuôn bởi những gì đã có; kịp thời và nhanh chóng điều chỉnh hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại và tìm ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. - Ví dụ: Cho tứ diện ABCD, gọi M, N, I lần lượt là trung điểm của AB, CD, MN. Gọi G là trọng tâm của ∆BCD. Chứng minh rằng ba điểm A, I, G thẳng hàng.
Khi giải bài tập này, một học sinh có tính mềm A dẻo, linh hoạt trong tư duy sẽ đưa việc chứng minh ba điểm A, I, G thẳng hàng thành các khả năng: M + Gọi G’ là giao điểm của AI và BN và chứng I minh G’ trùng với G. D B + Điểm I thuộc giao tuyến của hai mặt phẳng G N (ABN) và (ACG). uur uuur + Hai vectơ AI và AG cùng phương. C Từ đó lựa chọn phương án tốt nhất để giải bài toán đã cho.
Đó là sự thể hiện tính mềm dẻo và linh hoạt của tư duy.