Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo qua môn Tự nhiên xã hội lớp 3 7 Chương 2: Biện pháp phát triển một số yếu tố tư duy sáng tạo cho học sinh Tiểu học qua môn Tự nhiên xã hội lớp 3 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN MỘT SỐ YẾU TỐ TƯ DUY SÁNG TẠO QUA MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người được khám phá, chưa có hiểu biết, chưa nhận thức được.
Con người phải liên tục khám phá, thấu hiểu những cái chưa biết trong cuộc sống, phải chỉ ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy. Theo tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não người. Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lý tưởng.
Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Nhờ thuộc tính đặc biệt của tư duy mà con người phát hiện quy luật của các sự vật hiện tượng, xây dựng suy nghĩ logic và đưa ra các giải pháp tối ưu. Trong nhiều cuốn sách về tư duy của mình, tác giả Art Costa đưa ra nhận định rằng: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khi chúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra trong các mối quan hệ”. Nói một cách đơn giản là: “Chúng ta suy nghĩ”.
Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Hiểu theo cách đơn giản nhất, khi có sự kích thích TD là một loạt những hoạt động của bộ não. Tóm lại, có thể hiểu TD là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người, là một hiện tượng tâm lý.Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ. Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con người.
Khái niệm liên quan đến tư duy sáng tạo Có rất nhiều các giải thích về khái niệm TDST, chẳng hạn như: 9 Tác giả Đức Uy cho rằng: “Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người ấy”[10].Quan điểm này cho rằng không có sự phân biệt về sáng tạo, nghĩa là sáng tạo dù ít, dù nhiều đều là sáng tạo. Đưa ra khái niệm khác trong cuốn “Sổ tay Tâm lý học”, tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”[15]. Nguyễn Huy Tú (1996), trong “Tâm lý học sáng tạo”, định nghĩa sáng tạo như sau: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề.
Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”[21]. Từ một số khái niệm về TDST mà các tác giả đã đưa ra, chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù tư duy sáng tạo được giải thích trên nhiều góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều cùng chung quan điểm cho rằng: TDST là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; là những hoạt động sáng tạo có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, trong bất kỳ một tình huống có vấn đề nào. Bản chất của sáng tạo là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội.
Đây là một điểm chung mà các tác giả đều nhấn mạnh nhưng được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. Điểm chung nữa ở các tác giả là đều nhấn mạnh đến ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo. Trong luận văn này chúng tôi quan niệm: TDST là một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người, được xây dựng từ nền tảng sẵn có để tạo ra một hình tượng mới nhằm giải quyết các vấn đề đặc trưng. Một số yếu tố tư duy sáng tạo 10 Trong nghiên cứu về TDST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trưng (thuộc tính) của TDST.
Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt, tính thuần thục, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề…khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặc trưng của TDST. Khi nghiên cứu về TDST, Guilford J., nhà tâm lý học Mỹ cho rằng TDST về bản chất là tìm kiếm và thể hiện những phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ. Do đó sáng tạo là một thuộc tính của TD, là một phẩm chất của quá trình TD TDST, có đặc trưng:tính mềm dẻo, tính thuần thục , tính độc đáo,…., TDST về bản chất là tìm kiếm và thể hiện những phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ. Do đó sáng tạo là một thuộc tính của TD, là một phẩm chất của quá trình TD.
Ông cũng khẳng định tức mọi cá nhân bình thường đều có khả năng sáng tạo. Đồng thời cho rằng quá trình sáng tạo có thể tái tạo tự giác. Trong đề tài này chúng tôi thống nhất với quan điểm của các nhà nghiên cứu tâm lý học sáng tạo cho rằng TDST được đặc trưng bởi các yếu tố chính như tính mềm dẻo, tính thuần thục, tính độc đáo,…do Loowenfeld (1962) đưa ra. Tính mềm dẻo Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác.
Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, tạo ra sự vật mới trong mối liên hệ mới, xây dựng phương pháp tư duy mới.dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người. Có thể thấy những đặc điểm sau của tính mềm dẻo của TD : Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác; dễ dàng chuyển hướng sang giải pháp mới ; 11 Không áp dụng máy móc rập khuôn những tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có vào trong những điều kiện, hoàn cảnh mới trong đó có những yếu tố đã thay đổi; Biết điều chỉnh kịp thời, chuyển hướng suy nghĩ nếu gặp trở ngại; Có khả năng thay đổi thoát ly những ảnh hưởng kìm hãm của kinh nghiệm, phương pháp, cách thức suy nghĩ đã có; Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện đã quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng đã quen biết. Tính thuần thục Tính thuần thục (lưu loát, nhuần nhuyễn) thể hiện khả năng làm chủ tư duy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các giải pháp xử lý khi giải quyết vấn đề. Đó chính là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết về ý tưởng mới.
Nó được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng. Các đặc trưng của tính thuần thục trong TDST như sau: Dưới nhiều khía cạnh khác nhau có khả năng xem xét đối tượng; có cái nhìn đa chiều, đa dạng, toàn diện đối với một vấn đề; Khả năng đa dạng các giải pháp trên nhiều góc độ và nhiều tình huống khác nhau; Khả năng tìm được giải pháp tối ưu từ nhiều giải pháp cho một vấn đề sau khi sáng lọc; Tính độc đáo Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phương thức lạ và duy nhất. Tính độc đáo được đặc trưng bởi các khả năng sau: Khả năng tìm ra các mối liên hệ trong những sự kiện tưởng như không có liên kết với nhau; Khả năng tìm ra những liên kết, hợp tác mới; Khả năng tìm ra những giải pháp độc đáo, khác biệt so với những giải pháp khác. 12 Ngoài ra, TDST còn được đặc trưng bởi các yếu tố khác.
Chẳng hạn như: tính nhạy cảm (Loowenfeld (1962): là năng lực phát hiện vấn đề, mâu thuẫn, sai lầm, bất hợp lý một cách nhanh chóng…Tính chi tiết: là khả năng lập kế hoạch, phối hợp giữa các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và chứng minh ý tưởng. Các đặc trưng trên của TDST có quan hệ mặt thiết, không tách rời nhau, luôn bổ sung cho nhau, trong các đặc trưng trên tính độc đáo được cho là quan trọng nhất trong biểu đạt sáng tạo, tính độc đáo chỉ xuất hiện trên các cá thể riêng biệt mang màu sắc của cá thể. Tính mềm dẻo, thuần thục là cơ sở để có thể đạt được tính độc đáo, tính nhạy cảm, tính chi tiết và hoàn thiện. Tư duy sáng tạo ở học sinh tiểu học 1.
Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học Giai đoạn đầu tiểu học, trẻ có khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế, chú ý có chủ định của còn yếu. Chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn, trẻ lúc này chỉ quan tâm đến những hoạt động mang tình hấp dẫn sinh động, sự hào hứng, thích thú trong thời điểm nhất định từ các phần thưởng hấp dẫn… Sự tập trung chú ý của trẻ còn thấp và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Giai đoạn cuối tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, có ý thức điều chỉnh sự chú ý của mình. Chú ý có chủ định dần phát triển và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có xuất hiện ý chí nỗ lực trong học tập.
Trong sự chú ý của trẻ bắt đầu xuất hiện yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm và trong khoảng thời gian định lượng cố gắng hoàn thành công việc đó .