CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Năng lực là gì? “Từ năng lực có nghĩa gốc chung mà từ điển Tiếng Việt đã nêu lên là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [4]. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tôi chỉ dẫn ra một số cách hiểu về khái niệm năng lực được sử dụng trong các văn bản chương trình giáo dục phổ thông nhiều nước, để tiện so sánh và nhận xét.
Ví dụ: “Năng lực có thể định nghĩa như một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có các nguồn bên ngoài như các bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [18]. Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [28]. Weinert: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” [26].
Coolahancho rằng, năng lực được xem như là “Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [31]. Với các cách hiểu trên đều đi đến kết luận: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Tất nhiên hành động (làm) hay thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách máy móc, mù quáng. 7 Nhìn vào chương trình thiết kế theo năng lực của các nước ta có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể chuyên biệt (specific competence).
“Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học” [25]. Hội đồng Châu Âu gọi là ‘’năng lực chính (Key competence)’’ [26]. Khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như: Năng lực nền tảng (soclede competencies), năng lực chủ yếu (essential competencies), kĩ năng cốt lõi (coreskills) năng lực cơ bản (basic competencies),… Theo quan điểm của EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng đối với các chuyên gia nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.
“Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, môn học nào đó” [29]; vì thế chương trình Québec gọi là năng lực môn học cụ thể (subject - specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên chương trình, năng lực chung. Từ quan niệm về năng lực của các nước phát triển, “chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” [5],[6] của Việt Nam đã đưa ra: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí …thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Có hai loại năng lực lớn: + Năng lực cốt lõi: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. + Năng lực đặc biệt: Là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người.
Năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. 8 a) Năng lực chung là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển như: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. b) Năng lực chuyên môn là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Bên cạnh việc hình thành, phát triển năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS.
Dạy học phát triển năng lực Khảo sát và nghiên cứu việc phát triển chương trình giáo dục của một số nước phát triển, chúng tôi thấy xu thế thiết kế chương trình theo hướng phát triển năng lực được khá nhiều quốc gia quan tâm, vận dụng. Thuật ngữ được dùng khá phổ biến là Competency-based Curriculum (Chương trình dựa trên cơ sở năng lực - gọi tắt là chương trình năng lực). Vậy chương trình năng lực là gì và tại sao lại phải chuyển sang loại chương trình ấy? Thực chất vẫn là chương trình dựa trên kết quả đầu ra như đã nêu ở trên. “Tuy nhiên cần lưu ý, có rất nhiều dạng kết quả đầu ra” [20].
Đầu ra của cách tiếp cận mới này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học, xuất phát từ những năng lực thiết yêu, cần có này mà lựa chọn và đề xuất các nội dung dạy học. “Chương trình năng lực chủ trương giúp HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm; phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác là phải gắn với thực tiễn cuộc sống” [18]. Dạy học theo hướng phát triển năng lực nhằm hạn chế việc HS biết rất nhiều nhưng làm không được bao nhiêu; kiến thức rất uyên bác nhưng thực hành lại lúng túng, vụng về.
Vì thế, mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, là khối lượng nội dung là biết thật nhiều mà là năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những yêu 9 cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày. Như thế, nội dung, kiến thức ở đây là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng là năng lực. Tuy nhiên, mục tiêu phát triển năng lực không có nghĩa là xem nhẹ kiến thức. Không có kiến thức thì không thể có năng lực.
Kiến thức vẫn là cốt lõi để tạo ra năng lực. Dạy học phát triển năng lực vì thế quan tâm không chỉ đến các chất liệu (Kiến thức, kĩ năng, thái độ…) mà rất chú ý đến cách thức, phương pháp. Sau mỗi giờ học theo định hướng này, HS không chỉ được mở mang về tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra tri thức đó; biết tri thức đó giúp được gì cho mình trong cuộc sống hàng ngày và để đi xa hơn trong tương lai. Dạy học phát triển năng lực yêu cầu HS tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm.
Người GV có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho HS làm việc, trao đổi…cùng tham gia với HS và nêu những nhận xét của mình nếu thấy cần thiết. Tóm lại, dạy học phát triển năng lực vẫn coi trọng nội dung kiến thức. Và cần thay đổi cách dạy và cách học theo hướng HS chủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng tri thức vào cuộc sống và hình thành phương pháp tự học để học suốt đời. Sáng tạo và năng lực sáng tạo 1.
Sáng tạo Sáng tạo là hoạt động mang tính tinh thần của mỗi cá nhân và mỗi người lại có cách thức và con đường sáng tạo khác nhau. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra quy luật chung cho sự sáng tạo là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Cho đến nay, hầu hết các định nghĩa về sáng tạo đều cho rằng “sáng tạo là hoạt động tạo ra cái gì đồng thời có tính mới và tính ích lợi” [9] Dựa vào sản phẩm để đánh giá quá trình tạo ra nó là một hướng đi cần thiết để gọi tên, khu biệt một hoạt động khi người ta không thể quan sát trực tiếp được nó. Tuy nhiên, hướng đi này do chỉ đi tìm những dấu hiệu cụ thể để chứng minh cho cái gọi là “sáng tạo” nên dễ rơi vào những nhận định, đánh giá chủ quan.
Hơn thế nữa, một sản phẩm sáng tạo của một hay nhiều cá nhân cũng chưa đủ cơ sở để khái quát thành một lí thuyết về hoạt động tạo ra nó. Vì thế, Amabile cho rằng 10 một sản phẩm hay một hoạt động nào đó được gọi là sáng tạo không chỉ dựa vào đặc điểm của sản phẩm được tạo ra mà còn phải căn cứ vào cách thức, con đường làm ra sản phẩm đó như thế nào. Ông quan niệm hoạt động sáng tạo “phải có tính trực giác chứ không mang tính logic” [19]. Như vậy, sáng tạo không chỉ là hoạt động hướng tới mục tiêu tạo ra cái mới, có tính hữu dụng, cần thiết cho hoạt động của con người mà còn phải là một hướng đi mới, con đường mới chưa được nghiên cứu, xác lập thành quy luật phổ biến.
Quan niệm của Amabile về cơ bản vẫn dựa trên tiêu chuẩn về “cái mới” nhưng ông đã cố gắng phân biệt hoạt động sáng tạo với các hoạt động mang tính logic. Cái mới, hiểu một cách đơn giản là những gì đối lập với cái cũ, cái đã có, đã được làm trước đó. Cái mới cũng có nhiều mức độ khác nhau tương ứng với từng cấp độ sáng tạo.