CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYÉT LIÊN QUAN ĐÈN ĐÈ TÀI LUẬN VĂN 1.1 Khái niệm “lỗi ngôn ngữ” Lỗi ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm, ngay từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu của các tác giả vẫn còn tồn tại những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Nhà ngôn ngữ học Pit Corder (1918 — 1990) là một trong những người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của lỗi. Theo ông, lỗi không phải một điều gì sai trái, hay đáng xấu hỗ bắt buộc phải xóa bỏ.
Lỗi phát sinh một cách tự nhiên và có vai trò quan trọng đối với giáo viên cũng như với bản thân người học. Lỗi cung cấp cho ta những sự hiểu biết, cho ta cái nhìn đúng hon về cách sử dụng ngôn ngữ để từ đó rút ra kinh nghiệm cho chính bản thân mình cũng như mọi người để viết, nói một cách chính xác. Corder trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy đã tìm hiểu và phân tích các loại lỗi ngôn ngữ. Ông cho rằng, lỗi ngôn ngữ là kết quá của sự thể hiện chưa thành công khi người học thụ đắc một ngôn ngữ nào đó với tư cách là ngôn ngữ thứ hai.
Corder nhận định rằng, lỗi ngôn ngữ “không phải là vấn đề phải vượt qua hay những cái gì sai trái, hay là điều đáng xấu hồ cần xóa bỏ. Thực ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thê phát hiện ra những chiến lược mả người học đã sử dụng để học một ngoại ngữ. Lỗi cung cấp cho chúng ta những hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu trong quá trình học một ngoại ngữ” [dan theo 9, tr. Trong công trình Tờ điển ngôn ngữ học ứng dụng của Nhà xuất bản Longman năm 1985, lỗi ngôn ngữ được định nghĩa như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng.) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc là chưa đầy đủ” [dẫn theo 32, tr.
Như vậy, so với quan điểm của S. Corder, quan điểm của các tác giả trong Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng về lỗi ngôn ngữ có phần đơn giản hơn. Nhà ngôn ngữ học Hendrickson cũng có chung quan điểm khi nhìn nhận lỗi ngôn ngữ như một hiện tượng xảy ra trong quá trình tiếp nhận ngoại ngữ của người học. Ông cho rằng lỗi ngôn ngữ là một hình thức biểu đạt, một phát ngôn hoặc một kết cấu mà giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thê chấp nhận được, bởi lý do cách sử dụng không hợp lý của chúng, hoặc là sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường.
Tác giả nhắn mạnh, trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ thứ hai, sự khoan dung của người dạy trong việc mắc lỗi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí người học. Tác giả khang định khi giáo viên khoan dung hơn trong đối với một số lỗi của người học thì sẽ giúp cho người học sẽ cảm thấy tự tin hơn khi sử dụng ngôn ngữ. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, các nhả ngôn ngữ học nhìn nhận lỗi ngôn ngữ như một sự sai lệch về âm vị hoặc sai lệch về quy tắc cấu trúc, một dạng thức sử dụng hoặc là diễn đạt không chuẩn mực của người học trong những tình huống cụ thể. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận bản chất của việc mac lỗi như những biểu hiện của hoạt động tích cực nhằm kiểm nghiệm các giả thuyết của mình về bản chất ngôn ngữ mình đang học.
Dưới góc độ sư phạm, lỗi cung cấp cho người dạy những thông tin vô cùng quý báu để đưa ra quyết định nên chú ý hơn tới những phần nào trong quá trình dạy học. Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học ứng dụng đã phân biệt hai loại lỗi, d6 1a “16%” (error) va “lam” (mistake). Lỗi (error) hình thành do những tri thức về ngôn ngữ đích (ngôn ngữ được học) còn hạn chế. Corder cho rằng, loại lỗi này lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tính hệ thống và cần được đặc biệt qun tâm và đây chính là đối tượng của phân tích lỗi.
Tuy nhiên theo gợi ý của W. Little Wood “tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên (regularity)- chứng cớ tốt nhất mà một lỗi (error) phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [25, tr. Theo gợi ý này, chúng tôi chỉ khảo sát những lỗi có tần số xuất hiện nhiều lần. Loại lỗi thứ hai được các nhà ngôn ngữ học phân biệt là “mistake” (lầm).
Loại lỗi này, theo các nhà nghiên cứu, chúng thường xuất hiện do những yếu tố tâm lý, sinh lý của người học. Khi họ không đảm bảo về sức khỏe như mệt mỏi, lơ đãng, thiếu quan tâm, không tập trung học tập. Những loại lỗi này không xuất hiện thường xuyên và có tính chất ngẫu nhiên, không tạo thành hệ thống nên chúng không được coi là đối tượng phân tích lỗi. Trong quá trình nghiên cứu các loại lỗi để thực hiện luận văn của mình, căn cứ vào đối tượng khảo sát với phạm vi là lỗi tiếng Việt của học sinh bậc học THCS thông qua các bài làm văn nên tác giả không phân định rõ ràng và chỉ tiết các loại theo những tiêu chí phân loại như trên.
Do đó, trong quá trình khái quát và phân tích các kết quả khảo sát thực tế, tác giả sử dụng thuật ngữ cơ bản “lỗi ngôn ngữ” cho toàn bộ các nội dung, hiện tương ngôn ngữ. Một số hướng nghiên cứu về “lỗi ngôn ngữ” Lỗi ngôn ngữ được nghiên cứu từ sớm, và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội, lỗi ngôn ngữ được các nhà khoa học nhìn nhận cũng có những thay đổi nhất định theo các cách khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung trình ba khuynh hướng nghiên cứu cơ bản nhất về "lỗi ngôn ngữ" bao gồm: thuyết hành vi - cơ sở lí thuyết của phân tích tương phản, phương pháp phân tích tương phản và phân tích lỗi. Thuyết hành vi Những năm đầu thế kỷ XX, tâm lý học thế giới nghiên cứu tâm lý người thường thiên về cảm nhận chủ quan của các nhà khoa học.
Chính vì 10 vậy, thuyết tiếp cận hành vi ra đời là một trong những nỗ lực lớn của các nhà khoa học thời kỳ này để khắc phục khuyết điểm đó. Giữa thể kỷ XX, tâm lý học hành vi ra đời, đây là trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lý học thế giới trong suốt thế kỷ XX với các đại biểu xuất sắc của trường phái này là các nhà tâm lý học hàng đầu như: A. Theo quan điểm của thuyết hành vi, mỗi con người có khả năng thực hiện nhiều hành vi khác nhau, con người là một tô chức. Sự xuất hiện của những hành vi này phụ thuộc vào các yếu tổ chủ yếu trong quá trình học, đó là: kích thích (stimulus) để tạo ra hành vi phản ứng (respone) và củng cố (reinforcement) nham khang định sự phù hợp (hay không phủ hợp) của phản ứng và khuyến khích sự lặp lại (hoặc mất đi) phản ứng trong tương lai để có được thói quen.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuyết hành vi nghiên cứu sự thụ đắc ngôn ngữ thứ hai dựa trên ngôn ngữ thực mà người học đã tạo ra, cùng với đó là nghiên cứu và phân tích, xem xét quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Qua góc nhìn của thuyết hành vi, các nhà ngôn ngữ học cho rằng, việc học ngôn ngữ thứ hai cũng tương đồng với các hình thức học khác, đó là sự hình thành thói quen. Một thói quen sẽ tạo nên bởi một phản hồi một cách tự động trước một kích thích có sẵn. Như vậy, chỉ có hành vi nói đúng và chính xác, người học mới có thể học được ngôn ngữ thứ hai.
Và hành vi này phải thường xuyên được củng cố, trau đồi thì thói quen mới được hình thành. Cũng theo thuyết hành vi, trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai, dù là lỗi đơn giản hay phức tạp, nhiều hay ít cũng phải được ngăn chặn ngay từ đầu, bởi đó là sự lệch chuẩn, không được chấp nhận và phải khắc phục bằng mọi cách. Lỗi là những nhân tố chủ yếu ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ đích và là những biểu hiện không tốt cho việc học tiếng. Lỗi là những nhân tố ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng đúng ngôn ngữ đích và là những biểu hiện không tốt cho việc học tiếng.
Theo thuyết hành 11 vi, hai vấn dé chính gây lỗi trong quá trình người học tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai đó chính là thói quen và sự chuyển di ngôn ngữ. * Thói quen Dưới góc nhìn của thuyết hành vi, các nhà ngôn ngữ học cho rằng, thói quen được hình thành trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của con người cả khi học tiếng mẹ đẻ cho đến khi học ngôn ngữ thứ hai. Thói quen được hình thành trong điều kiện có một kích tích dẫn đến những phản ứng thông qua bắt chước và phản xạ. Thói quen có hai đặc trưng quan trọng, đó chính là chúng có thể quan sát được và mang tính tự động.
Vì mang tính tự động nên việc xóa bỏ thói quen là hết sức khó khăn, cho nên muốn thay đổi được thói quen, phải thay đổi môi trường, lúc đó các kích thích dẫn đến thói quen sẽ không còn. Cũng theo thuyết hành vi, thói quen được hình thành từ những kích thước đặc biệt có liên hệ với một phản ứng đặc biệt. Watson là một nhà tâm lý học tiêu biểu đại diện cho thuyết hành vi. Ông cho rằng, kích thích sẽ gợi ra phản ứng, có nghĩa là nếu kích thích xuất hiện thì phản ứng theo đó cũng xuất hiện theo.
Còn đối với Skinner, ông nhấn mạnh đến phản ứng mà không quan tâm đến tầm quan trọng của kích thích, bởi theo ông, hành vi tiếp theo của phản ứng sẽ củng có, và qua đó giúp cho việc tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng. Kết quả là việc học một thói quen cần diễn ra qua sự bắt chước hoặc qua củng có. Các nhà ngôn ngữ học cho rằng, việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai diễn ra giống như quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất.