Khai thác các bài toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5

Luận văn tốt nghiệp toán học nghiên cứu tốt nghiệp khai thác các bài toán chuyển động đều nhằm cải thiện năng lực tư duy sáng tạo cho học, điều tra thực trạng, phân tích số liệu,

Trường đại học

Trường Đại học Hùng Vương

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài

0.3. Ý nghĩa khoa học

0.4. Ý nghĩa thực tiễn

0.5. Mục tiêu nghiên cứu

0.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.7. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.8. Phương pháp nghiên cứu

0.8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

0.8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

0.9. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Điểm qua một số công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về năng lực tư duy sáng tạo của học sinh

1.1.1. Ở trong nước

1.1.2. Ở nước ngoài

1.2. Tư duy sáng tạo

1.2.1. Khái niệm tư duy sáng tạo

1.3. Tư duy sáng tạo ở học sinh tiểu học

1.4. Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh

1.5. Một số lưu ý rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học trong các tình huống dạy học toán ở tiểu học

1.5.1. Trong bài giảng mới

1.5.2. Trong giải bài tập

1.5.3. Kiểm tra, đánh giá

1.5.4. Các hoạt động khác

1.6. Nội dung chương trình dạy học toán chuyển động đều ở lớp 5

1.6.1. Nội dung dạy học toán chuyển động ở lớp 5

1.6.2. Mục tiêu dạy học toán chuyển động ở lớp 5

1.7. Thực trạng khai thác các bài toán chuyển động đều nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5

1.7.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

1.7.2. Mục đích khảo sát

1.7.3. Đối tượng khảo sát

1.7.4. Phương pháp khảo sát

1.7.5. Nội dung khảo sát

1.7.6. Kết quả khảo sát thực trạng

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHAI THÁC CÁC BÀI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 5

2.1. Định hướng khai thác bài toán chuyển động đều nhằm

2.1.1. Rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy

2.1.2. Rèn luyện tính thuần thục của tư duy

2.1.3. Rèn luyện tính độc đáo của tư duy

2.2. Định hướng khai thác bài toán chuyển động đều nhằm rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5

2.3. Nguyên tắc cơ bản khi khai thác bài toán chuyển động đều ở lớp 5

2.3.1. Đảm bảo các đặc trưng của tư duy sáng tạo

2.3.2. Đảm bảo mục tiêu, nội dung chương trình dạy học toán chuyển động đều ở Tiểu học

2.3.3. Căn cứ vào đặc điểm nội dung môn toán

2.3.4. Dựa trên đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học và quá trình nhận thức

2.4. Một số cách khai thác bài toán chuyển động đều

2.4.1. Tìm ra nhiều lời giải cho một bài toán, từ đó tìm lời giải hợp lí nhất

2.4.2. Bớt dữ kiện, giữ nguyên yêu cầu hoặc nâng cao yêu cầu

2.4.3. Thiết kế các bài toán tương tự với bài toán đã cho

2.4.4. Tăng hoặc giảm số đối tượng bài toán

2.4.5. Phát biểu bài toán ngược từ bài toán gốc

2.4.6. Nêu dữ kiện bài toán dưới dạng ẩn

2.4.7. Tách những vấn đề lớn, vấn đề khó thành những vấn đề nhỏ hơn để giải quyết từng bước, đặt lại đề toán

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm

3.2.1. Đối tượng thực nghiệm

3.2.2. Thời gian thực nghiệm và cơ sở thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Triển khai thực nghiệm

3.5. Phương thức đánh giá kết quả thực nghiệm

3.6. Tổng hợp, đánh giá kết quả thực nghiệm

3.7. Phân tích định tính kết quả thực nghiệm

3.8. Phân tích định lượng kết quả

3.9. Kết quả kiểm tra đầu ra

3.10. Kết luận chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

0.1. Những đóng góp của khóa luận

0.2. Hướng phát triển của khóa luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của bài toán chuyển động đều

Bài toán chuyển động đều là một phần quan trọng trong chương trình toán lớp 5. Nó không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức về số học và đại lượng mà còn phát triển tư duy sáng tạo. Khai thác bài toán chuyển động đều giúp học sinh nhận thức rõ hơn về các khái niệm toán học, từ đó hình thành khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Theo nghiên cứu, việc giải quyết các bài toán này yêu cầu học sinh phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học, từ đó phát triển khả năng phân tích và tổng hợp thông tin. Điều này không chỉ có lợi cho việc học toán mà còn cho các môn học khác và cuộc sống hàng ngày. Như tác giả Hoàng Chúng đã chỉ ra, việc rèn luyện tư duy sáng tạo thông qua các bài toán này là rất cần thiết để học sinh có thể phát triển toàn diện.

1.1. Đặc điểm của bài toán chuyển động đều

Bài toán chuyển động đều có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm tính chất lặp lại và sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố. Học sinh cần phải hiểu rõ các yếu tố như tốc độ, quãng đường và thời gian để có thể giải quyết bài toán một cách hiệu quả. Việc phát triển tư duy sáng tạo thông qua bài toán chuyển động đều không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn khuyến khích các em tìm ra nhiều cách giải khác nhau. Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh có thể tự do khám phá và sáng tạo. Như vậy, bài toán chuyển động đều không chỉ là một phần của chương trình học mà còn là một công cụ hữu ích trong việc phát triển tư duy cho học sinh.

II. Phương pháp khai thác bài toán chuyển động đều

Để khai thác bài toán chuyển động đều một cách hiệu quả, giáo viên cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những phương pháp quan trọng là tạo ra các tình huống thực tế liên quan đến bài toán. Điều này giúp học sinh thấy được sự liên quan giữa toán học và cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, việc khuyến khích học sinh tìm ra nhiều lời giải cho một bài toán cũng là một cách hiệu quả để phát triển tư duy sáng tạo. Theo nghiên cứu, việc giảm bớt dữ kiện trong bài toán hoặc nâng cao yêu cầu cũng giúp học sinh phát triển khả năng tư duy độc lập. Giáo viên cần chú ý đến việc thiết kế các bài toán sao cho phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và sáng tạo.

2.1. Tạo tình huống thực tế

Việc tạo ra các tình huống thực tế giúp học sinh dễ dàng hình dung và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Giáo viên có thể sử dụng các ví dụ từ cuộc sống hàng ngày để minh họa cho bài toán chuyển động đều. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu bài tốt hơn mà còn kích thích sự tò mò và ham học hỏi. Như vậy, việc phát triển tư duy sáng tạo thông qua các tình huống thực tế là một phương pháp hiệu quả trong dạy học toán.

III. Đánh giá hiệu quả của việc khai thác bài toán chuyển động đều

Đánh giá hiệu quả của việc khai thác bài toán chuyển động đều là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Các kết quả khảo sát cho thấy học sinh có khả năng tư duy sáng tạo cao hơn khi được tiếp cận với các bài toán này. Việc áp dụng các phương pháp khai thác bài toán chuyển động đều không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy độc lập. Theo các chuyên gia, việc đánh giá không chỉ dựa vào kết quả học tập mà còn dựa vào sự phát triển của tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Điều này cho thấy rằng việc khai thác bài toán chuyển động đều có giá trị thực tiễn cao trong việc giáo dục học sinh.

3.1. Kết quả khảo sát

Kết quả khảo sát cho thấy rằng học sinh tham gia vào các hoạt động khai thác bài toán chuyển động đều có sự tiến bộ rõ rệt trong khả năng tư duy và giải quyết vấn đề. Học sinh không chỉ cải thiện kỹ năng toán học mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo. Điều này chứng tỏ rằng việc phát triển tư duy sáng tạo thông qua bài toán chuyển động đều là một phương pháp giáo dục hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Khai thác các bài toán chuyển động đều nhằm phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh Tiểu học. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Điểm qua một số công trình nghiên cứu ở trong nƣớc và nƣớc ngoài về năng lực tƣ duy sáng tạo của học sinh 1. Ở trong nước Tác giả Hoàng Chúng đã nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho học sinh các phƣơng pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học: đặc biệt hóa, tổng quát hóa và tƣơng tự. Có thể vận dụng các phƣơng pháp đó để giải các bài toán đã cho, để mò mẫm và dự kiến kết quả, tìm ra đƣợc phƣơng pháp giải bài toán, để mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức.

Theo tác giả, để rèn luyện khả năng sáng tạo toán học, ngoài lòng say mê học tập cần rèn luyện khả năng phân tích vấn đề một cách toàn diện ở nhiều khía cạnh khác nhau biểu hiện ở hai mặt quan trọng: Phân tích các khái niệm, bài toán, kết quả đã biết dƣới nhiều khía cạnh khác nhau từ đó tổng quát hóa hoặc nhận xét các vấn đề tƣơng tự theo nhiều khía cạnh khác nhau. Tìm nhiều lời giải khác nhau của một bài toán, khai thác các lời giải đó để giải các bài toán tƣơng tự hay tổng quát hơn hoặc là đề xuất các bài toán mới. Tác giả Phạm Gia Đức và Phạm Văn Hoàn [5] đã nêu rõ “Rèn luyện kĩ năng công tác độc lập là phƣơng pháp hiệu quả nhất để học sinh hiểu kiến thức một cách sâu sắc, có ý thức sáng tạo”. Vốn kiến thức thu nhận đƣợc nhà trƣờng “chỉ sống và sinh sôi nảy nở nếu ngƣời học sinh biết sử dụng nó một cách sáng tạo bằng công sức độc lập suy nghĩ của bản thân đã đƣợc tôi luyện”.

Học sinh không thể có tƣ duy sáng tạo nếu không có tƣ duy độc lập. Các tác giả nhấn mạnh rằng: “Công tác độc lập cần phải phát triển ở học sinh sự hoạt động của tƣ duy và sáng tạo”. Khi trình bày về công tác độc lập của HS trong công việc giải bài tập toán, các tác giả lƣu ý đến một trong những hình thức cao của công tác độc lập đòi hỏi nhiều sáng tạo là việc học sinh tự lấy ra đề toán. Đó là biện pháp để bồi dƣỡng TDST cho HS.

Trong quá trình đề xuất bài toán mới, phát hiện vấn đề mới, các phẩm chất của TDST đƣợc nảy sinh và phát hiện các giáo trình và khi nói đến 6 nhiệm vụ môn toán đều nhấn mạnh đến nhiệm vụ phát triển năng lực trí tuệ chung, trong đó có nhiệm vụ hình thành những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là các phẩm chất tƣ duy độc lập và sáng tạo. Trong các tác giả Nguyễn Bá Kim, Vũ Dƣơng Thụy đã phân tích: “Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cần thiết của tƣ duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác nhau của tƣ duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tƣ duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới: Phát hiện vấn đề mới, tìm ra hƣớng đi mới, tạo ra kết quả mới. Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ.

Cái mới thƣờng nảy sinh, bắt nguồn từ cái cũ. Tác giả Phạm Văn Hoàn, Trần Thúc Trình, Nguyễn Gia Cốc đã khẳng định rằng: “Phát triển những năng lực toán học ở học sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của thầy giáo”. Ở nước ngoài Trong V.Krutecxki [11,12] đã nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của học sinh. Năng lực ở đây đƣợc theo hai nghĩa, hai mức độ.

Một là, theo ý nghĩa năng lực học tập (tái tạo) tức là năng lực đối với việc học toán, đối với việc nắm bắt giáo trình toán ở trƣờng phổ thông, nắm bắt một cách nhanh và tốt các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tƣơng ứng. Hai là, theo ý nghĩa năng lực sáng tạo (khoa học) tức là năng lực đối với hoạt động sáng tạo toán học, tạo ra những kết quả mới, khách quan, có một giá trị lớn đối với loài ngƣời. Giữa hai mức độ hoạt động toán học đó không có một sự ngăn cách tuyệt đối. Nói đến năng lực học tập toán không phải là không đề cập đến năng lực sáng tạo.

Có nhiều học sinh có năng lực, đã nắm giáo trình toán học một cách độc lập và sáng tạo, đã tự đặt ra và giải những bài toán không phức tạp lắm, đã tự tìm ra các con đƣờng, các phƣơng pháp sáng tạo để chứng minh các định lí, độc lập suy ra các công thức, tự tìm ra các phƣơng pháp giải độc đáo những bài toán không mẫu mực. Tác giả đã sử dụng một hệ thống bài toán thực nghiệm đƣợc chọn lọc một cách công phu để nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của học sinh. Từ các 7 kết quả nghiên cứu đó, tác giả kết luận: tính linh hoạt của quá trình tƣ duy khi giải toán thể hiện trong việc chuyển đổi dễ dàng và nhanh chóng từ một thao tác trí tuệ này sang một thao tác trí tuệ khác, trong tính đa dạng của các cách xử lý khi giải toán, trong việc thoát khỏi ảnh hƣởng của sự kìm hãm những phƣơng pháp giải rập khuôn. Krutecxki cũng nghiên cứu sâu về tính thuận nghịch của quá trình tƣ duy trong lập luận toán học (Khả năng chuyển đổi nhanh chóng và dễ dàng từ tƣ duy thuận sang tƣ duy đảo).

Tuy nói về tâm lý năng lực toán học của học sinh nhƣng tác phẩm của Krutecxki cũng toát ra những phƣơng pháp bồi dƣỡng năng lực toán học cho học sinh. Nếu các tác phẩm của các nhà tâm lý học chủ yếu nghiên cứu khía cạnh tâm lý của năng lực sáng tạo thì tác phẩm của G.Polia đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học. Tác giả đã phân tích quá trình giải toán không tách rời quá trình dạy toán, do đó cuốn sách đã đáp ứng đƣợc yêu cầu nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập môn toán ở nhà trƣờng phổ thông mà một trong những nhiệm vụ là rèn luyện tƣ duy sáng tạo. Các tác giả của Liên Xô cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực sáng tạo của con ngƣời.

Chẳng hạn Puskin V. nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của TDST, mối quan hệ giữa TDST và hoạt động vô thức; Kedrôp B. nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của hoạt động khoa học, tƣ duy khoa học, những đặc điểm chung và đặc thù hoạt động phát minh của nhà khoa học; G. Mensinxkaia phân tích tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo và mối quan hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức; Rubinxtein X.

nhấn mạnh sự ảnh hƣởng qua lại của TD và tƣởng tƣợng trong hoạt động sáng tạo. Có thể thấy rằng vấn đề rèn luyện TDST của học sinh đã đƣợc nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu. Đó là một năng lực quan trọng trong cấu trúc năng lực toán học của học sinh 1. Tƣ duy sáng tạo.

Khái niệm tư duy sáng tạo. Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có. Nội dung sáng tạo gồm hai ý chính: có tính mới (khác với cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (tốt, có giá trị hơn cái cũ, cái đã biết). Nhƣ vậy, sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳ lĩnh vực nào của xã hội loài ngƣời.

Sáng tạo thƣờng đƣợc nghiên cứu trên nhiều bình diện nhƣ một quá trình phát sinh ra cái mới, nhƣ một kiểu tƣ duy, nhƣ một năng lực của con ngƣời và thậm chí nhƣ một hiện tƣợng tồn tại trong sự tiến hóa của tự nhiên. Nhiều nhà tâm lý học thừa nhận rằng những dấu hiệu sau là đặc trƣng của tƣ duy sáng tạo. - Sản phẩm của hoạt động tƣ duy có đƣợc tính mới mẻ, có giá trị. - Quá trình tƣ duy đƣợc chỉ đạo bởi tƣ tƣởng, quan điểm, phƣơng pháp luận tiến bộ.

- Quá trình tƣ duy cũng còn đƣợc đặc trƣng bởi sự tồn tại của động cơ mạnh, của tính kiên trì vƣợt khó khăn trong thời gian dài, của sự nỗ lực vƣợt bậc, của các phẩm chất đặc biệt khác của nhân cách. Theo Lecne có hai kiểu tƣ duy cá nhân: một kiểu gọi là tƣ duy tái hiện, kiểu kia gọi là tƣ duy sáng tạo. Theo định nghĩa thông thƣờng và phổ biến nhất của tƣ duy sáng tạo thì đó là tƣ duy tạo ra đƣợc cái gì mới. Thật vậy, tƣ duy sáng tạo dẫn đến những tri thức mới về thế giới và về các phƣơng pháp hoạt động.

Lecne đã chỉ ra các thuộc tính sau đây của quá trình tƣ duy sáng tạo: - Có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới. - Nhìn thấy những vấn đề mới trong điều kiện quen biết, “đúng quy cách”. - Nhìn chức năng mới của đối tƣợng quen biết. - Nhìn thấy cấu trúc của đối tƣợng đang nghiên cứu.

- Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với việc tìm kiếm lời giải (khả năng xem xét đối tƣợng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi màu thuận nhau). 9 - Kỹ năng kết hợp những phƣơng thức giải đã biết thành một phƣơng thức mới. - Kỹ năng sáng tạo một phƣơng thức giải độc đáo tuy đã biết những phƣơng thức giải khác.Nói đến quan hệ giữa các khái niệm “tƣ duy tích cực”, “tƣ duy độc lập”,và “tƣ duy sáng tạo”, V.A Krutecxki [12] cho rằng có thể biểu diễn quan hệ đó dƣới dạng những vòng tròn đồng tâm. Đó là những mức độ tƣ duy khác nhau mà mỗi mức độ tƣ duy đi trƣớc là tiền đề cho mức độ tƣ duy đi sau.

Tƣ duy sáng tạo là tƣ duy tích cực và tƣ duy độc lập, nhƣng không phải mọi tƣ duy tích cực là tƣ duy độc lập và không phải mọi tƣ duy độc lập là tƣ duy sáng tạo. Để làm sáng tỏ mối quan hệ này, V.A Krutecki đã giải thích bằng một ví dụ: Một học sinh chăm chú nghe thầy cô cách chứng minh định lí, cố gắng hiểu đƣợc tài liệu. Ở đây có thể nói đến tƣ duy tích cực. Nếu thầy giáo thay việc giải thích bằng việc yêu cầu học sinh tự phân tích định lí dựa theo sách giáo khoa, tự tìm hiểu cách chứng minh thì trong trƣờng hợp này có thể nói đến tƣ duy độc lập (cũng là tƣ duy tích cực).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khai thác bài toán chuyển động đều phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 5" tập trung vào việc sử dụng các bài toán chuyển động đều để kích thích và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, giúp học sinh không chỉ hiểu rõ hơn về khái niệm chuyển động mà còn rèn luyện khả năng tư duy logic và sáng tạo. Bài viết cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó nâng cao khả năng giải quyết vấn đề.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển tư duy cho học sinh, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục phát triển suy luận đồng biến thiên của học sinh dựa trên các biểu diễn toán động, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách phát triển suy luận toán học cho học sinh. Ngoài ra, Luận văn phát triển tư duy hàm cho học sinh thông qua mô hình hóa toán học và giải quyết tình huống gợi vấn đề cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng mô hình hóa trong giảng dạy. Cuối cùng, Luận văn phát triển năng lực chứng minh cho học sinh thông qua dạy giải bài tập hình học sẽ cung cấp thêm thông tin về cách nâng cao năng lực chứng minh cho học sinh, một kỹ năng quan trọng trong toán học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc phát triển tư duy toán học cho học sinh.