Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm câu Đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về câu. Mỗi người lại có những quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về câu. Tuy nhiên khái niệm về câu của tác giả Diệp Quang Ban có tính thuyết phục và dễ hiểu hơn cả.
Theo ông: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời cũng là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" [3] Để giúp người học có cách nhìn nhận đúng đắn và sâu sắc hơn về câu, Diệp Quang Ban cho rằng: "Hiểu một cách chặt chẽ thì câu là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ. Theo cách hiểu đó, việc nghiên cứu câu chỉ dừng lại ở đặc trưng cấu trúc của nó. Nhưng, do câu được dùng trong thực tiễn giao tiếp cho nên đối tượng xem xét ngữ pháp phải là câu phát ngôn, để giản tiện chúng ta vẫn gọi ngắn gọn là câu" [4].
Tác giả nhấn mạnh quá trình tìm hiểu câu phải chú ý đến những đặc trưng cơ bản sau: - Về phương diện hình thức, câu có cấu tạo ngữ pháp và có một ngữ điệu kết thúc (khi nói) hoặc sử dụng một trong những dấu cuối câu để kết thúc (khi viết). - Về phương diện nghĩa, câu biểu thị một nội dung sự việc và phản ánh thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói (người viết) đối với sự vật được trình bày trong đó hoặc đối với người nghe. - Về phương diện sử dụng (chức năng giao tiếp), câu được dùng để thể hiện hành động nói nhằm hình thành, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Nó là đơn vị có chức năng thông báo nhỏ nhất trong giao tiếp.
10 Câu phân loại theo cấu trúc cú pháp gồm câu đơn, câu phức và câu ghép. Phân loại câu theo mục đích nóigồm có câu kể, câu nghi vấn, câu khiến, câu cảm. Khái niệm câu kể Câu kể là kiểu câu được gọi tên bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Các tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980), Hoàng Văn Thung - Lê A (1994) và tác giả SGK Tiếng Việt 4 dùng thuật ngữ câu kể.
Diệp Quang Ban sử dụng thuật ngữ câu tường thuật (1992) và câu trình bày (2000).Để thống nhất cách gọi cho học sinh ở đây chúng tôi sử dụng thuật ngữ câu kể. Theo Hoàng Văn Thung - Lê A “Câu kể dùng để tả hay kể lại một sự việc hoặc nêu một nhận định về sự vật, hiện tượng.” [29] Tác giả Diệp Quang Ban (2000) cho rằng: “Câu trình bày là câu có chức năng trình bày, tức là dùng để kể, xác nhận, mô tả một vật, hiện tượng, sự việc với các đặc trưng và quan hệ của chúng” [4] Theo SGK Tiếng Việt 4 (tập 1) các tác giả đã đưa ra định nghĩa câu kể như sau: “Câu kể (còn được gọi là câu trần thuật) là những câu dùng để kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc; nói lên ý kiến hoặc tâm tư, tình cảm của mỗi người. Cuối câu kể thường có dấu chấm.” [25] Các định nghĩa trên có sự khác nhau về cách dùng thuật ngữ nhưng các tác giả đều có điểm chung cơ bản đó là quan tâm đến chức năng gắn với mục đích dùng câu trong giao tiếp. Đặc biệt với định nghĩa trong SGK Tiếng Việt lớp 4, các tác giả còn đưa ra dấu hiệu nhận biết câu kể để phân biệt với các kiểu câu khác.
Từ đây chúng tôi đưa ra cách hiểu về kiểu câu kể như sau: Câu kể hay còn gọi là câu tường thuật, câu trần thuật, câu trình bày. Đó là câu có chức năng dùng để kể hay tả về người, sự vật, sự việc hay hiện tượng với các đặc trưng và quan hệ của chúng. Câu kể: “Ai làm gì?”, “Ai thế nào?” Theo nhận xét của Diệp Quang Ban (2000), mặc dù cùng dựa vào hai tiêu chí phân loại câu nói trên nhưng các nhà Ngữ pháp học truyền thống chủ 11 yếu xem xét mỗi kiểu câu đã được phân loại trong thế cô lập. Sự khác biệt giữa các nhà Ngữ pháp học truyền thống và nhà Ngữ pháp học hiện đại là ở cách nhìn nhận về vấn đề câu nói chung và những căn cứ để phân loại câu nói riêng.
Những nhà Ngữ pháp học hiện đại nhìn nhận về câu trong mối quan hệ gắn bó giữa kết học, nghĩa học và dụng học. Họ rất chú ý đến mối quan hệ giữa mục đích sử dụng câu với đặc điểm cấu trúc và hiệu quả của câu trong việc thực hiện các chức năng giao tiếp. Từ cách nhìn câu như vậy, một số tác giả đã bổ sung những tiêu chí phân loại câu kể. Tiêu biểu cho cách nhìn mới mẻ về việc phân loại câu kể theo tinh thần của Ngữ pháp học hiện đại là Hoàng Trọng Phiến, tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn để xem xét những câu được phân chia theo mục đích sử dụng (nghĩa là dùng câu kể với mục đích nêu nhận định, miêu tả hoạt động, trạng thái hay chỉ ra các tính chất, đặc điểm…).
[22] Câu kể được chia thành ba mẫu câu nhỏ: “Ai là gì?”, “Ai làm gì?”, “Ai thế nào?”. Trong đó hai kiểu câu “Ai làm gì?”,“Ai thế nào?” hay bị nhầm lẫn trong cách xác định và sử dụng trong học sinh lớp 3 nói riêng và trong học sinh Tiểu học nói chung. Câu kể “Ai làm gì?” - Kiểu câu “Ai làm gì?” có vị ngữ do động từ hoặc cụm động từ chỉ hoạt động tạo thành. Ví dụ : Hà đang nhảy dây Chú mèo đang vờn quả bóng trên sân.
- Khi vị ngữ biểu thị ý phủ định, nó kết hợp với các từ: không, chưa. Ví dụ : Bạn Hoa không chơi. - Chủ ngữ trong kiểu câu “Ai làm gì?” có thể là một từ hoặc cụm từ. Ví dụ: Em quét nhà.
Bọn em và các bạn lớp 3A đang chơi nhảy dây. Kiểu câu “Ai làm gì?” được dùng để miêu tả hoạt động của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ. Những câu có nội dung như vậy được gọi là câu miêu tả 12 chủ ngữ. Câu “Ai làm gì?” cũng có thể thông báo về sự xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ.
Đó là những câu tồn tại. Trong câu tồn tại, chủ ngữ thường đứng sau vị ngữ. Câu kể “Ai thế nào?” - Kiểu câu “Ai thế nào?” có vị ngữ do động từ chỉ trạng thái, tính từ, cụm tính từ hoặc cụm chủ - vị tạo thành. Ví dụ: Bông hoa này thơm.
Bông hoa này thơm quá. Bông hoa này mùi hươngthơm quá. - Khi vị ngữ biểu thị ý phủ định, nó kết hợp với các cụm từ: không, chưa. - Chủ ngữ trong câu “Ai thế nào?” có thể là một từ hoặc cụm từ.
- Câu “Ai thế nào?”là những câu được dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ. Chủ ngữ trong câu miêu tả thường đứng trước vị ngữ. - Dựa vào các tài liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng các tác giả đã nghiên cứu về câu kể “Ai làm gì?”, “Ai thế nào?” một cách kĩ lưỡng và tỉ mỉ, hướng dẫn cách phân biệt, cách sử dụng từng kiểu câu. Tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế dạy và học ở khối lớp 3 như thế nào, giáo viên và học sinh gặp những khó khăn gì trong việc truyền tải và tiếp thu kiến thức, những sai lầm dễ mắc phải trong phân biệt hai kiểu câu trên là gì… lại chưa có ai đề cập tới.
Đặc điểm tâm lý và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 3 1. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3 Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến tuổi tiểu học hoạt động của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên với học sinh lớp 3 các em vẫn ở giai đoạn đầu của lứa tuổi Tiểu học. Do vậy các em luôn có những thắc mắc muốn tìm tòi khám phá.
Bên cạnh đó vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều nên cách diễn đạt chưa thật linh hoạt. Ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 3 Theo các nhà tâm lý học từ khi học nói đến khi đi học trẻ đã có một vốn ngôn ngữ nhất định. Hầu hếthọc sinh Tiểu học đã có ngôn ngữ nói thành thạo. Với học sinh lớp 3 lượng từ của các em đã phong phú hơn học sinh lớp 1, lớp 2 khá nhiều.
Do đó sự phát triển ngôn ngữ của các em có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình nhận thức và phát triển tư duy. Nhờ có ngôn ngữ mà quá trình nhận thức của các em phát triển và được biểu hiện cụ thể hơn so với các lớp ở giai đoạn đầu cấp tiểu học (lớp 1, 2). Trí nhớ của học sinh lớp 3 Giai đoạn đầu của lứa tuổi tiểu học (lớp 1, 2, 3) khả năng ghi nhớ của các em chưa cao, chưa bền vững và dễ thay đổi. Các em chủ yếu ghi nhớ máy móc kiến thức mà chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.Ở lớp 3 ghi nhớ có chủ định bắt đầu phát triển hơn so với lớp 1, lớp2.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và khách quan như tính hấp dẫn của cách truyền đạt, tổ chức; khả năng tập trung vào bài học dựa trên các hình ảnh, ngữ liệu học tập. Đặc điểm chú ý của học sinh lớp 3 Ở các lớp đầu cấp Tiểu học chú ý có chủ định của các em còn yếu, tính bền vững, khả năng kiểm soát, chú ý của các em chưa cao. Trong lứa tuổi này chú ý không chủ đích chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ đích. Đến giai đoạn lớp 3 trong các giờ dạy giáo viên hạn chế bớt đồ dùng trực quan bởi sự chú ý có chủ đích của các em đang dần phát triển.
Các em bắt đầu định hình được khoảng thời gian cho phép thực hiện một hoạt động nào đó và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian quy định. Tác phong làm việc của các em nhanh hơn, hiệu quả hơn so với lớp1, lớp 2.