CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người chưa biết, chưa nhận thức được. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.
Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy. Theo từ điển Tiếng Việt [22]: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí. Theo từ điển Giáo dục học [9]: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh được bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con người không nhận biết được bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tượng. Theo giáo trình Tâm lí học của tác giả Phạm Minh Hạc [8] thì: Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức, chưa biết.
Dưới góc độ giáo dục học, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác (touch), thị giác (sight), thính giác (sound), khứu giác (smell) hay vị giác (taste).
Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt 13 động trí tuệ. Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con người.
Tuy nhiên, chúng tôi thống nhất theo quan điểm của tác giả Đỗ Ngọc Miên [18]trong đề tài: “Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học” cho rằng: TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ. Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con người.
Bản chất của tư duy Tư duy là một quá trình nhận thức cao của con người, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy lí,.Tư duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm của hoạt động xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa.Kết quả của quá trình tư duy là sự nhận thức về một đối tượng nào đó ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn. Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của TD mới chỉ phản ánh được cấu trúc bên ngoài của TD, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành động TD lại là một quá trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tư duy. Có thể nói các thao tác trí tuệ chính là các quy luật bên trong của TD. Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, TD diễn ra thông qua các thao tác sau: a) Thao tác phân tích Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những thuộc tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được hiển minh.
14 b) Thao tác tổng hợp Tổng hợp là quá trình dùng trí óc hợp nhất, sắp xếp những thành phần được tách ra qua phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác được xem là mang dấu ấn sáng tạo. Khi nói người có “đầu óc tổng hợp” thì cũng tương tự như nói người có “đầu óc sáng tạo”. Có thể nói, phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng lẽ của TD mà là hai quá trình có liên hệ biện chứng chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, phân tích được tiến hành trên cơ sở tổng hợp và tổng hợp được thực hiện trên kết quả của phân tích nghĩa là thao tác phân tích giúp HS tìm cách giải quyết vấn đề còn thao tác tổng hợp giúp HS tìm cách trình bày vấn đề.
c) Thao tác so sánh - tương tự So sánh - tương tự là thao tác TD nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực. Nhờ so sánh, người ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Thao tác so sánh cũng có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp. So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết của tư duy.
Bởi vì, nhờ có so sánh các sự vật hiện tượng với nhau mà ta có thể lĩnh hội các tài liệu học tập với tất cả tính đa dạng độc đáo và phức tạp của chúng. Vì vậy nó có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của quá trình nhận thức ở trẻ em. Nó cho phép trẻ không chỉ nhận biết mà còn phân biệt được đối tượng khác nhau trong thế giới xung quanh. d) Thao tác trừu tượng hóa Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính, quan hệ không cần thiết chỉ giữ lại những yếu tố đặc trưng, bản chất của đối tượng nhận thức.
e) Thao tác khái quát hóa Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, quan hệ chung, bản 15 chất của sự vật hiện tượng. Kết quả của khái quát hóa là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại. Tóm lại, các TTTD cơ bản được xem như quy luật bên trong của mỗi hành động tư duy. Trong thực tế, các thao tác này đan xen vào nhau mà không theo một trình tự máy móc.
Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tư duy, điều kiện tư duy, không phải mọi hành động tư duy đều nhất thiết phải tuân theo các thao tác tư duy trên. Các vấn đề về tư duy logic 1. Khái niệm tư duy logic Dựa trên phương diện lịch sử và phát triển tư duy, đa số các nhà nghiên cứu đều phân chia tư duy thành ba loại sau: Tư duy trực quan hành động, tư duy hình ảnh, tư duy trừu tượng (hay còn gọi là tư duy logic). Tư duy logic còn được các nhà giáo dục gọi với cái tên khác là tư duy trừu tượng, tư duy lí luận hay tư duy lí thuyết.
Tư duy trừu tượng phản ánh những quy luật, những mối liên hệ bản chất mà nhận thức cảm tính cũng như các loại tư duy khác không phản ánh được. trình độ tư duy trừu tượng càng cao thì con người càng có tư duy thâm nhập vào các sự vật, hiện tượng. Nếu một con người có năng lưc tư duy tốt, người đó sẽ xử lí các vấn đề nói chung và các vấn đề toán học rất hiệu quả. Tư duy logic là loại tư duy phát triển ở mức độ cao nhất, chỉ có ở con người.
Đó là loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa trên các khái niệm; các mối quan hệ logic, gắn bó chặt chẽ với nhau và lấy ngôn ngữ làm phương tiện. Alec-xe-ep, V. Onhisuc [17] thì phát triển tư duy logic cho học sinh được tiến hành thông qua việc sử dụng chính xác ngôn ngữ và các kí hiệu toán học, các khái niệm cùng với phương pháp suy luận quy nạp, suy luận suy diễn. Tư duy logic là loại tư duy trong đó yêu cầu chủ thể phải có kỹ năng rót ra các hệ quả từ những tiền đề cho trước, kỹ năng phân chia những trường 16 hợp riêng biệt và hợp chúng lại; kĩ năng dự đoán kết quả cụ thể bằng lí thuyết, kỹ năng tổng quát những kêt quả đã thu được.
TS Trần Ngọc Lan [16 ] thì tư duy logic được đặc trưng bởi kỹ năng đưa ra những hệ quả từ những tiền đề, kỹ năng phân chia hợp lí những trường hợp riêng biệt và hợp chúng lại để dược những hiện tượng đang xét kỹ năng khẳng định lí thuyết một cách cụ thể hoặc tổng quát hóa những kết quả đã thu được. Trong dạy học toán ở tiểu học, tư duy logic được biểu hiện ở chỗ rút ra nhận xét từ một số trường hợp cụ thể, nhìn ra mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới ở những lập luận logic trong khi tìm tòi lời giải bài toán ở việc xác nhận hoặc bác bỏ một kết quả đã có…. Tư duy logic là hoạt động của não bộ để giải quyết một vấn đề. Tư duy logic cần dữ liệu đầu vào và não bộ sẽ phân tích để ra được hướng giải quyết.
Người có khả năng tư duy logic cao là người có khả năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề tốt dựa trên những dữ liệu, dữ kiện có sẵn trong não bộ. Dữ liệu này có thể là kiến thức hoặc kinh nghiệm của người đó. Theo Đỗ Ngọc Miên [18] tư duy lôgic là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản, như khái niệm, phán đoán, suy luận cùng các thao tác lôgic xác định của chủ thể, nhằm sản xuất các tri thức mới với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan. Tư duy lôgic được lôgic học (hình thức) nghiên cứu.
Nó xây dựng các quy luật, quy tắc chi phối quá trình nhận được tri thức suy diễn (tri thức nhận được bằng con đường gián tiếp). Các thao tác tư duy được lôgic học khái quát thành các phương pháp (cụ thể) của tư duy, như quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp,. Vì vậy, có thể nói một cách khái quát, tư duy lôgíc là nhận thức lý tính tuân thủ các quy luật, quy tắc, phương pháp, v.