CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực a) Khái niệm năng lực Năng lực được định nghĩa theo nhiều khái niệm khác nhau tùy thuộc vào dấu hiệu và các yếu tố khác nhau. Các nhà tâm lý học cho rằng: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Ngoài ra còn một số các nghiên cứu khác cũng chỉ ra: Tác giả John Erpenbeck cho rằng: “Năng lực được thiết lập, xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí chính là năng lực” [30].
Để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, con người cần có năng lực. Đó là các khả năng và kỹ năng nhận thức. Trong những tình huống thay đổi bất ngờ đòi hỏi tính sẵn sàng hành động, sử dụng kiến thức, khả năng và các kĩ năng để giải quyết một vấn đề cụ thể có hiệu quả thì chính là năng lực. Theo Nguyễn Công Khanh: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống.
Có thể thấy bản chất của năng lực chính là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn qua quá trình học tập rèn luyện. Con người có thể thực hiện, hoàn thành một loại hoạt động, một nhiệm vụ nhất định và đạt kết quả trong những điều kiện cụ thể. Biểu hiện của năng lực là 11 biết sử dụng các nội dung, các kĩ thuật và các kĩ năng trong một tình huống cụ thể và có ý nghĩa, chứ không phải theo cách tiếp nhận rời rạc. b) Cấu trúc năng lực Nếu ví cấu trúc của năng lực như một tảng băng trôi thì năng lực bao gồm 2 phần: phần nổi và phần chìm.1: Minh họa về cấu trúc của năng lực Có thể thấy rằng con người không tự nhiên sinh ra đã có năng lực mà phần lớn do công luyện tập hình thành nên năng lực.
Cấu trúc của năng lực có những đặc điểm sau: - Rõ ràng nhất tính cơ động. Thực tế giảng dạy cho thấy nhiều học sinh có năng lực khác nhau có thể thực hiện tốt nhiều hoạt động. Do đó, cá nhân mỗi học sinh có thể có nhiều năng lực khác nhau hoặc cùng là một loại năng lực nhưng mỗi học sinh có những biểu hiện khác nhau. Chính tính cơ động của năng lực giúp học sinh dễ dàng học tập, rèn luyện trong nhiều môn học, hoạt động ngoại khóa khác nhau.
Năng lực của mỗi học sinh mang những nét riêng biệt. Năng lực của từng học sinh là khác nhau không bao giờ lặp lại. Mỗi cá nhân học sinh có thể có nhiều loại năng lực hoặc cũng có học sinh có ít kiểu loại năng lực hơn. 12 Nhiều em học sinh có năng lực về âm nhạc, em lại có năng lực về hội họa hay năng lực thể thao hoặc khoa học tự nhiên,… Một trong các nghiên cứu của A.
Covaliốp về cấu trúc của năng lực chỉ ra những thành phần sau: Hình 1.2: Các thành phần trong cấu trúc năng lực Như vậy có bao nhiêu hoạt động thì có bấy nhiêu kiểu loại năng lực tương ứng. Ngay trong cùng một kiểu loại năng lực, năng lực của học sinh này cũng khác năng lực ở học sinh khác. c) Năng lực chung và năng lực đặc thù theo chương trình GDPT 2018 Chương trình tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 đã xác định năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi. làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.
Ba năng lực chung, đó là: “Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”.[2] Như vậy theo chương trình GDPT mới người giáo viên cần giúp HS hình thành và phát triển ba năng lực chung bao gồm năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ và giao tiếp. Quá trình học tập các môn học và các hoạt động tập thể cần 13 chú trọng và hướng tới rèn luyện các năng lực thường xuyên, thành thạo cho học sinh. Chương trình cũng chỉ rõ: “Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao.”[2] Thông qua các hoạt động giáo dục, các môn học văn hóa hay các môn năng khiếu đều góp phần phát triển ba năng lực chung và các năng lực đặc thù riêng của từng môn học cụ thể. Khi đó, với từng môn học năng lực đặc thù vừa là mục tiêu hướng đến vừa là thao tác nằm trong hoạt động dạy và học.
Qua việc giúp học sinh phát triển tốt năng lực đặc thù sẽ góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung. Môn Toán là một trong những môn văn hóa rất được chú trọng ở Tiểu học. Dạy học toán sẽ góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực toán học mà biểu hiện rõ nhất là năng lực tính toán bao gồm năm năng lực đặc thù sau: Năng lực tư duy và lập luận toán học; Năng lực mô hình hóa toán học; Năng lực giải quyết vấn đề toán học; Năng lực giao tiếp toán học; Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán 1. Năng lực tư duy và lập luận toán học a) Khái niệm tư duy Tác giả Hoàng Phê của cuốn “Từ điển Tiếng Việt” cho rằng: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý.”[16] 14 Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu về nó.
Có nhiều quan điểm về tư duy của các nhà nghiên cứu: Theo V. Lê Nin: “ Tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai,. đến vô hạn”. Mác: “Tư duy là quá trình tiến tới cái mới, đề xuất những nhận thức mới, là quá trình không ngừng bổ sung và đổi mới”[27].
Thực chất quy luật của tư duy chính là quy luật của sự phát triển và tìm cái mới. Theo quan niệm của Đặng Phương Kiệt "Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn"[10]. Với cách tiếp cận này, biểu tượng mới sẽ xuất hiện sau khi được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và khi đạt tới giai đoạn này trong quá trình xử lý thông tin đó chính là tư duy. Thông qua những hoạt động xã hội nảy sinh tư duy, do đó tư duy là sản phẩm của xã hội.
Các quá trình nhận thức gián tiếp như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa,… bao hàm bởi tư duy. Từ đó kết quả của quá trình tư duy chính là sự nhận thức về một đối tượng ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn. Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Hoàng Phê: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý”.[16] Xét về góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là một hệ thống có nhiều ý tưởng bao gồm tri thức về một sự vật, sự việc nào đó. Hoạt động tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ.
b) Đặc điểm của tư duy - Tính có vấn đề của tư duy: Thế nào là một vấn đề? Vấn đề chính là tình huống mới xảy ra trong một hoàn cảnh nào đó và mang mục đích nhất 15 định. Những kiến thức cũ, những phương pháp hành động cũ không đủ sức giải quyết một vấn đề mới xảy đến. Khi xuất hiện tình huống có vấn đề mà cách thức cũ không thể giải quyết những vấn đề phức tạp và mới mẻ này. Con người phải tìm cách thức mới để giải quyết vấn đề đó, tư duy sẽ xuất hiện.
- Tính gián tiếp của tư duy: Nhận thức một cách trực tiếp về thế giới thì không phải đặc điểm của tư duy, mà tư duy có khả năng nhận thức thế giới một cách gián tiếp qua các phương tiện khác nhau. Con người có thể sử dụng ngôn ngữ để tư duy và ngôn ngữ chính là vỏ bọc của tư duy. Ngôn ngữ giúp con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và những kinh nghiệm vốn có của bản thân vào quá trình tư duy như phân tích, so sánh, khái quát… Từ đó, con người biết được bản chất của sự vật, hiện tượng… Việc sử dụng các phương tiện máy móc để nhận thức về các đối tượng không thể trực tiếp tri giác thể hiện tính gián tiếp của tư duy. Đặc điểm này giúp con người có được những phán đoán có tính khoa học đối với những sự vật xảy ra trong quá khứ hay tương lai.
Ví dụ như dự báo về tính hình phát triển của nền kinh tế, dự báo về các ngành nghề mới trong tình hình dịch, cảnh báo về thiên tai, dự báo về thời tiết, biến đổi khí hậu… - Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Thế nào là tính trừu tượng? Tức là dùng trí óc để giữ lại những yếu tố cần thiết quan trọng cho tư duy và loại bỏ những thứ không cần thiết. Còn tính khái quát tức là tri thức dựa trên những đặc điểm, những thuộc tính giống nhau để hợp nhất những đối tượng khác nhau vào cùng một nhóm, một loại nào đó. Chúng có liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao ảnh hưởng tới quá trình tiếp nhận, sự hiểu biết về mọi vật …. Nếu không có trừu tượng thì không thể tiến hành quá trình khái quát, nhưng có trừu tượng mà không có khái quát thì sẽ không làm rõ được nhận thức về một sự vật, đối tượng nào đó.