CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Một số vấn đề về năng lực Khái niệm và đặc trưng của NL được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau.
Tham khảo công trình tổng hợp về Tâm lý học của Phạm Minh Hạc [12], có thể thấy một số cách tiếp cận NL như sau: - NL được xây dựng trên cơ sở tri thức, xem như là khả năng của con người được hình thành qua trải nghiệm và củng cố (quan điểm của John Erpenbeck 1998). - NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể. - NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra. Các kết quả nghiên cứu về Tâm lý học cho thấy: NL là sự kết hợp của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng và thái độ (mang đặc điểm cá nhân), phù hợp với yêu cầu thực hiện một loại hoạt động nhất định, đảm bảo để người đó hoạt động đạt hiệu quả tốt.
Như vậy, có thể hiểu: NL liên quan chặt chẽ đến những thuộc tính của con người, tạo ra khả năng hoàn thành một nhiệm vụ, thực hiện thành công một công việc của con người. Trong lĩnh vực giáo dục, ở chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, NL được hiểu là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm 6 tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. Xét về mặt giáo dục, cần thấy rõ: NL là sự kết hợp giữa tố chất cá nhân sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học. Trong đó, bên cạnh yếu tố kiến thức, kỹ năng còn bao gồm cả hứng thú và khả năng tư duy, nhận thức của cá nhân người học.
Từ đó, để phát triển NL cho HS, GV tổ chức các hoạt động HT và trải nghiệm cho các em, giúp HS hoàn thành những nhiệm vụ HT và GQVĐ trong quá trình giáo dục. NL toán học của HS Theo Chương trình Giáo dục Phổ thông môn Toán 2018, NL toán học của HS bao gồm các thành tố: “NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hoá toán học; NL GQVĐ toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán”. [3] Ở chương trình môn Toán 2018, NL toán học đã được mô tả các biểu hiện và mức độ đạt được của HS qua từng cấp học, bậc học phù hợp với tiến trình phát triển NL này trong toàn bộ quá trình HT ở trường phổ thông. Cụ thể là, mỗi thành tố được cụ thể hóa chi tiết theo mức độ yêu cầu tăng dần từ HS tiểu học đến HS THCS và cao nhất là đối với HS THPT.
Điều đó giúp GV xây dựng kế hoạch phù hợp rèn luyện cho HS đạt được những tiêu chí về NL toán học sau mỗi giai đoạn học tập: Trong từng giai đoạn nhất định thì HS có thể đạt được những yếu tố và mức độ nhất định nào? Mỗi giai đoạn học Toán xem như một “bậc thang” để chuẩn bị cho HS tiếp tục phát triển NL toán học một cách đầy đủ, ở mức độ cao hơn. Khi thực hiện bồi dưỡng NL toán học cho HS qua môn Toán, GV cần đến những lưu ý những khuyến nghị trong [28] “Với năm thành tố của NL toán học như đã xem xét ở trên thì các thành tố này có vai trò, vị trí như nhau, mặc dù cách trình bày, thể hiện và diễn giải các biểu hiện của từng thành tố là rất khác nhau. Nhiều thuật ngữ về NL được lặp đi lặp lại từ cấp (lớp) này đến cấp (lớp) 7 kia nhưng đều đi kèm với những câu, những mệnh đề nhằm diễn tả cấp độ trên đường phát triển NL toán học. Ở một số tiêu chí, chỉ báo những thuật ngữ được sử dụng liên quan đến quá trình tâm lý.
Việc mô tả các tiêu chí, chỉ báo phải đi kèm với các dấu hiệu hoặc các chỉ số cụ thể để làm rõ hơn sự “phát triển”, sự “hiểu biết” hay “thành thạo” của HS qua từng cấp học nhằm chỉ rõ tiến trình phát triển từ cấp học này đến cấp học kia”. Mặt khác, cũng cần chú ý rằng: Đối với mỗi bài dạy, GV chỉ có thể đặt ra yêu cầu cụ thể về một vài yếu tố và ở mức độ nào đó đối với những thành tố NL toán học mà HS có thể đạt được, có liên quan trực tiếp đến nội dung bài học chứ chưa thể đòi hỏi phát triển được NL toán học. Sự thay đổi của NL cần phải tiến hành một cách dần dần từng bước trong cả quá trình học tập môn Toán của HS. Với HS tiểu học, NL toán học được cụ thể hóa trong chương trình giáo dục phổ thông môn Toán (ban hành năm 2018) biểu hiện ở các mức độ phù hợp, cụ thể là: Thành phần năng lực Biểu hiện ở HS tiểu học Năng lực tư duy và lập luận toán học thể hiện qua việc: – Thực hiện được các thao tác tư – Thực hiện được các thao tác tư duy (ở duy như: so sánh, phân tích, tổng mức độ đơn giản), đặc biệt biết quan sát, hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tìm kiếm sự tương đồng và khác biệt tương tự; quy nạp, diễn dịch.
trong những tình huống quen thuộc và mô tả được kết quả của việc quan sát. – Chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và – Nêu được chứng cứ, lí lẽ và biết lập biết lập luận hợp lí trước khi kết luận hợp lí trước khi kết luận. – Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập – Giải thích hoặc điều chỉnh được luận, giải quyết vấn đề. Bước đầu chỉ ra cách thức giải quyết vấn đề về được chứng cứ và lập luận có cơ sở, có phương diện toán học.
lí lẽ trước khi kết luận. 8 Năng lực mô hình hoá toán học thể hiện qua việc: – Xác định được mô hình toán – Lựa chọn được các phép toán, công học (gồm công thức, phương thức số học, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ trình, bảng biểu, đồ thị,.) cho để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) tình huống xuất hiện trong bài được các nội dung, ý tưởng của tình toán thực tiễn. huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn đơn giản. – Giải quyết được những vấn đề – Giải quyết được những bài toán xuất toán học trong mô hình được thiết hiện từ sự lựa chọn trên.
– Thể hiện và đánh giá được lời giải – Nêu được câu trả lời cho tình huống trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến xuất hiện trong bài toán thực tiễn. được mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. Năng lực giải quyết vấn đề toán học thể hiện qua việc: – Nhận biết, phát hiện được – Nhận biết được vấn đề cần vấn đề cần giải quyết bằng toán học. giải quyết và nêu được thành câu hỏi.
– Lựa chọn, đề xuất được cách thức, – Nêu được cách thức giải quyết vấn giải pháp GQVĐ. – Sử dụng được các kiến thức, kĩ – Thực hiện và trình bày được cách thức năng toán học tương thích (bao gồm giải quyết vấn đề ở mức độ đơn giản. các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra. – Đánh giá được giải pháp đề ra và – Kiểm tra được giải pháp đã thực hiện.
khái quát hoá được cho vấn đề tương tự. 9 Năng lực giao tiếp toán học thể hiện qua việc: – Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép – Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép (tóm được các thông tin toán học cần tắt) được các thông tin toán học trọng thiết được trình bày dưới dạng văn tâm trong nội dung văn bản hay do bản toán học hay do người khác người khác thông báo (ở mức độ đơn nói hoặc viết ra. giản), từ đó nhận biết được vấn đề cần giải quyết. – Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) – Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải được các nội dung, ý tưởng, giải pháp pháp toán học trong sự tương tác toán học trong sự tương tác với người với người khác (chưa yêu cầu phải diễn đạt đầy khác (với yêu cầu thích hợp về sự đủ, chính xác).
Nêu và trả lời được câu đầy đủ, chính xác). hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề. – Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ – Sử dụng được ngôn ngữ toán học kết toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, hợp với ngôn ngữ thông thường, động biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic,.) tác hình thể để biểu đạt các nội dung kết hợp với toán học ở những tình huống đơn giản. ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác.
– Thể hiện được sự tự tin khi trình – Thể hiện được sự tự tin khi trả lời câu bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, hỏi, khi trình bày, thảo luận các nội dung tranh luận các nội dung, ý tưởng toán học ở những tình huống đơn giản. liên quan đến toán học. Năng lực sử dụng công cụ, 10 phương tiện học toán thể hiện qua việc: – Nhận biết được tên gọi, tác dụng, – Nhận biết được tên gọi, tác dụng,quy quy cách sử dụng, cách thức bảo cách sử dụng, cách thức bảo quản các quản các đồ dùng, phương tiện công cụ, phương tiện học toán đơn giản trực quan thông (que tính, thẻ số, thước, compa, êke, các thường, phương tiện khoa học công mô hình hình phẳng và hình khối quen nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng thuộc,.) công nghệ thông tin), phục vụ cho việc học Toán. – Sử dụng được các công cụ, – Sử dụng được các công cụ, phương phương tiện học toán, đặc biệt là tiện học toán để thực hiện những nhiệm phương tiện khoa học công nghệ để vụ học tập toán đơn giản.
tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn – Làm quen với máy tính cầm tay, đề toán học (phù hợp với đặc điểm phương tiện công nghệ thông tin hỗ trợ nhận thức lứa tuổi).