CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Về khái niệm năng lực Nhiều nhà khoa học, nhiều tài liệu khoa học đã viết về khái niệm NL. Chẳng hạn: - Từ điển mở Wiktionary khẳng định: NL là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn. - Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê cho rằng: NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [18, tr. - Trần Văn Hiến Minh (và đồng sự) cho rằng: NL là cái sức mạnh tích trữ ở trong con người hay nơi vật, giúp tiếp nhận hay hành động (Từ điển và danh từ triết học (1966), tr. Sau khi xem xét, so sánh và nghiên cứu các công bố khoa học của nhiều tác giả đã được giới thiệu, đưa ra ở trên và nhiều tài liệu khác nữa; trong luận án này chúng tôi đồng tình với định nghĩa: NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể, [2, tr.
Nhận xét Sau khi so sánh, phân tích, tổng hợp nhiều tài liệu nghiên cứu về năng lực; chúng tôi thấy rằng rằng: - Không có loại NL nào lại không dùng để làm gì; nói đến NL của chủ thể là nói đến NL gắn liền với HĐ nào đó, công việc nào đó. NL ở trình độ cao của chủ thể sẽ tạo điều kiện giúp cho chủ thể hoàn thành công việc đó tốt hơn. - Mọi hoạt động và công việc trong cuộc sống của chủ thể đều đòi hỏi chủ thể phải có NL ở trình độ nhất định. Ví dụ 1: Để làm công tác chủ nhiệm lớp, người GV cần có NL sư phạm.
8 Để tìm x trong: x + 5 = 32 - 10, HS cần có NL tư duy và lập luận toán học, NL GQVĐ toán học (chẳng hạn, cần phát hiện được: nên thực hiện phép tính 32 – 10 trước; lập luận được x = 22 - 5. Theo đó, mục tiêu xuyên suốt ở đề tài này, chúng tôi đề cập tới quá trình rèn luyện và phát triển NL GQVĐ toán học cho HS lớp 3. Cấu trúc của năng lực Có nhiều quan niệm về các thành phần cấu tạo thành NL của mỗi một con người; chẳng hạn: a) Theo tác giả Nguyễn Lan Phương và các đồng sự Quan sát theo chiều sâu (đầu ra) thì: - NL được tạo bởi các hợp phần (components of competency), chính là các lĩnh vực chuyên môn. - Hợp phần được tạo nên bởi các thành tố (element), là các NL hoặc kĩ năng bộ phận.
- Thành tố được tạo nên bởi các hành vi (behaviour). Ví dụ 2: NL sư phạm của người GV có thể được tạo thành bởi các hợp phần như: NL chuyên môn; NL DH; NL quản lí hồ sơ học tập; NL xây dựng môi trường sư phạm; … Ví dụ 3: NL giải toán của HS tiểu học có thể được tạo thành bởi các NL thành phần như: NL tìm hiểu đề bài; NL sàng lọc thông tin; nhận biết yêu cầu; NL phát hiện VĐ; NL GQVĐ; NL kiểm tra lời giải;… b) Theo nhiều nhà Tâm lý học NL được phân chia thành NL chung và NL chuyên môn. Theo đó, chúng tôi đồng tình rằng: - NL chung là NL cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như NL phán xét tư duy, NL khái quát hoá, NL tưởng tượng. - NL chuyên môn là NL đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như NL tổ chức, NL âm nhạc, NL kinh doanh, hội họa, Toán học.
Ví dụ 4: Nếu một HS có NL tư duy cao thì sẽ có thể định hướng để giải quyết những bài toán cụ thể có hiệu quả. Ngược lại từ chỗ giải quyết được nhiều bài toán cụ thể, NL tư duy của HS đó sẽ dần dần được phát triển. 9 c) Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam xác định, các thành phần của NL bao gồm: - Những NL chung (NL xuyên chương trình) được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học: NL Tự chủ và học tập. NL giao tiếp và hợp tác.
NL giải quyết vấn đề sáng tạo. - Những NL đặc thù (được hình thành và phát triển thông qua một số môn học): NL ngôn ngữ. NL tính Toán. NL khoa học.
NL công nghệ. NL tin học. NL thể chất. Mô tả về phẩm chất, NL cần phát triển cho HS (Chương trình Giáo dục phổ thông 2018).
Ghi chú: Cách xác định này khá tương đồng với cấu trúc về NL mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development; viết tắt: OECD) đã xác định. d) Theo mô hình ASK (trường phái Anh) Nhìn vào bề mặt (đầu vào), mỗi NL đều chủ yếu bao gồm 3 yếu tố: Thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skill), Kiến thức (Knowledge). Theo đó, chúng tôi đồng tình rằng: - Kiến thức là những hiểu biết mà chủ thể đã thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. - Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm được của chủ thể vào thực tế để tiến hành hoạt động nào đó.
10 - Thái độ là những suy nghĩ của chủ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng hoạt động nào đó. Ví dụ 5 [Theo 14 – Tập 1, tr. 6]: Để giải được bài toán trên; HS cần có thái độ học tập có kỉ luật, ham học hỏi để GQVĐ. HS cần có kiến thức ở một mức độ nhất định; chẳng hạn: hiểu được mỗi ô vuông nhỏ ứng với 1 đơn vị, mỗi cột đứng có 10 ô vuông ứng với một chục đơn vị, …; phân tích – tổng hợp được có 3 nội dung cần xem xét để giải quyết (những hình vuông – 100 ô, những cột đứng, những ô vuông nhỏ); …HS cũng cần có nhứng kĩ năng nhất định; chẳng hạn: vận dụng (một hình vuông – viết số 1 – đọc một trăm, ở đây là 2 hình vuông – viết số 2 – đọc hai trăm); … 1.
Năng lực giải quyết vấn đề toán học 1. Mô tả khái niệm - Tình huống, tập hợp những quan hệ đang tồn tại ở một lúc nhất định, giữa một con người và môi trường của người đó [Bùi Hiền và các tác giả, Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển bách khoa 2001, tr. - Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết [18, tr. Từ nghiên cứu so sánh, phân tích, tổng hợp nhiều tài liệu về NL GQVĐ, chúng tôi đồng tình rằng: NL Giải quyết vấn đề toán học của HS là khả năng phối hợp vận dụng những kiến thức, kĩ năng của môn Toán, các môn học khác trong chương trình và kinh nghiệm bản thân để giải quyết thành công các tình huống có vấn đề trong học tập môn Toán.
11 Học sinh cần hình thành và phát triển được năng lực toán học, biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán. Năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. NĂNG LỰC TOÁN HỌC NĂNG LỰC NGÔN NGỮ Hình 1. Mô tả một số năng lực cốt lõi (Dựa theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018).
NĂNG LỰC TOÁN HỌC ≡ NĂNG LỰC TÍNH TOÁN NL tư duy và NL lực mô NL giải quyết NL giao tiếp NL sử dụng lập luận toán hình hóa toán vấn đề toán toán học công cụ, học học học phương tiện học toán Hình 1. Mô tả các thành phần của năng lực toán học (Dựa theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018). Năng lực giải quyết vấn đề toán học trong quá trình học toán của học sinh 12 - VĐ đối với HS trong học toán, VĐ được hiểu như một tình huống - một bài toán, bao gồm các dữ kiện và các yêu cầu. Lúc này nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên chủ thể có nhu cầu GQVĐ với một bên là những tri thức, kĩ năng, phương pháp hiện có của chủ thể chưa đủ để giải quyết.
Từ đó chủ thể muốn giải quyết, phải tìm tòi, trải nghiệm, khám phá để tạo ra cho mình hiểu biết về nó và hiểu cách giải quyết tình huống đó. - NL GQVĐ toán học đối với HS trong học toán có thể là quá trình gồm các HĐ của HS để vượt qua các trở ngại, khó khăn giữa tình trạng (toán học) đã có với tình trạng (toán học) mong đợi. NL GQVĐ toán học có thể được chia ra thành các NL thành tố: NL1. Nhận biết, phát hiện VĐ cần giải quyết bằng toán học (phát hiện VĐ).
Lựa chọn, đề xuất cách thức, giải pháp giải quyết bài toán (đưa ra giải pháp). Sử dụng kiến thức, kĩ năng, công cụ toán học tương thích để thực hiện giải pháp (Thực hiện giải pháp - GQVĐ toán học). Kiểm tra giải pháp đề ra và khái quát hoá cho bài toán tương tự (kiểm tra giải pháp). NL GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC NL1.
KIỂM HIỆN VẤN GIẢI PHÁP HIỆN TRA GIẢI ĐỀ GIẢI PHÁP PHÁP Sơ đồ 1. Mô tả cấu trúc (chiều sâu) NL GQVĐ toán học của HS. Phát hiện VĐ NL2. Đưa ra giải pháp NL4.
Kiểm tra giải pháp NL3. Thực hiện giải pháp Sơ đồ 1. Mô tả NL GQVĐ toán học trong quá trình học toán của HS. Nhận xét 1) Năng lực GQVĐ nói chung, năng lực GQVĐ toán học nói riêng đã, đang và sẽ được nhiều nhà khoa học, giáo viên trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu.
Vấn đề này càng đặc biệt có ý nghĩa quan trong trong lộ trình đổi mới Chương trình và SGK phổ thông Việt Nam hiện nay. 2) Chủ thể của GQVĐ toán học trong đề tài này là HS lớp 3. Chủ thể của PPDH phát hiện và GQVĐ là những GV và HS mà nhiều tài liệu đã nói tới. 3) Dựa theo quan điểm của tác giả Nguyễn Lan Phương và các cộng sự cùng với những nội dung của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; chúng ta có thể xác định và mô tả các thành phần của NL GQVĐ toán học và yêu cầu cần đạt đối với HS tiểu học như sau: 14 Bảng 1.
Mô tả chi tiết các thành phần của năng lực GQVĐ toán học và yêu cầu cần đạt đối với HS tiểu học.