CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số công trình nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài *Ở nước ngoài Theo [12] hình học là khoa học về các hình, về vị trí tương đối và kích thước các bộ phận của các hình, cũng như phép biến đổi các hình. Phương đông là cái nôi của hình học.
Vào khoảng thế kỷ V trước công nguyên, hình học gắn liền với sự phát triển của ngành đạc điền ở cổ Ai Cập, Babilon và Hy Lạp. Nhu cầu thực tiễn của con người, thời ấy dẫn đến phải đo đạc diện tích các khoảnh đất, đo thể tích. Các kiến thức hình học thời đó gắn với qui tắc tính diện tích và thể tích. Các qui tắc thời kỳ đó mang tính chất thực nghiệm hơn là lôgic.
Các kiến thức hình học đã được đưa từ Ai Cập và Babilon sang Hy Lạp vào thế kỷ VII trước công nguyên, cũng từ đó hình học được trình bày một cách hệ thống như là một khoa học, trong đó tất cả các mệnh đề được chứng minh. Thời kỳ đó phải kể đến Thales, Pithago và Hyppocrate và học trò của Pithago trình bày hình học một cách hệ thống và đã tính được diện tích hình trăng khuyết… Với những phát minh vĩ đại trong hình học qua các thời kỳ đã đem lại những thành tựu to lớn trong toán học và những ứng dụng thiết thực của chúng trong cuộc sống. Hình học đã được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông từ bậc tiểu học đến các bậc học cao hơn ở tất cả các nước trên thế giới. *Ở trong nước Vấn đề dạy học các yếu tố hình học cũng như việc rèn luyện các kỹ năng hình học cho học sinh tiểu học từ trước đến nay đã có nhiều nhà sư phạm trong nước quan tâm, bởi vai trò và tầm quan trọng của nó trong cuộc sống, trong việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng hình học cho học sinh.
Trong đó phải kể đến các tác giả như: Nguyễn Áng, Vũ Văn Dương, Hà Sĩ Hồ, Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, trong các giáo trình phương pháp dạy học toán ở tiểu học, các tuyển tập các bài toán nâng cao đều có đề cập rèn luyện một số kỹ năng hình học, họ cho rằng đây là các kỹ năng cần thiết cho học sinh tiểu học, có thể 6 áp dụng vào thực tế cuộc sống và tạo cơ sở để tiếp tục học tập về hình học có hệ thống ở các lớp trên. Đồng thời các tác giả cũng chỉ ra các phương pháp chung dạy học các yếu tố hình học. Các tác giả như: Trần Diên Hiển, Nguyễn Kim Thoa: Trong giáo trình chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi toán tiểu học, thực hành giải toán tiểu học đã xây dựng được một số bài toán có nội dung hình học để giúp học sinh rèn luyện kỹ năng hình học, đặc biệt là các kỹ năng nhận dạng hình, tính diện tích, thể tích và hình học không gian. Các tác giả họ đều cho rằng qua các bài toán có nội dung hình học giúp học sinh tiểu học biết nhận dạng bài toán, lựa chọn được phương pháp giải, từ đó rèn luyện và phát triển các kỹ năng hình học.
Tuy nhiên chương trình yếu tố hình học ở lớp 5, mặc dù các tác giả đã đề ra phương pháp chung dạy chúng, song việc đề ra các biện pháp dạy học các yếu tố hình học ở lớp 5, nhìn chung còn là vấn đề bỏ ngỏ. Một số đặc điểm về nhận thức của học sinh lớp 5 Khi xây dựng bất cứ chương trình dạy học nào chúng ta đều phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh. Chương trình phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh sẽ giúp giáo viên đẩy nhanh tốc độ phát triển trí tuệ của trẻ, đưa các em vào "vùng phát triển gần nhất". Mặc dù trong những điều kiện, hoàn cảnh sống khác nhau nhưng trẻ đều có khả năng phát triển về nhận thức.
Nổi bật nhất là sự phát triển của tri giác, chú ý, trí nhớ, khí tưởng tượng và tư duy. Cụ thể: - Tri giác: Ở học sinh lớp 5 tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định. Đặc biệt, Sirius phân tích được hình thành và phát triển mạnh. Vì vậy, tri giác của các em gần đạt đến mức ổn định.
- Chú ý Khi bắt đầu đến trường, ở lớp 1, lớp 2 độ tuổi các em còn nhỏ nên trình độ hiểu biết còn non nớt, năng lực chú ý chưa cao, dễ bị phân tán. Những gì mang tiếng mới lạ, hấp dẫn luôn dễ dàng thu hút chỉ tò mò của các em. Càng 7 lên lớp lớn, các em ngày càng có khả năng chú ý mạnh mẽ. Khả năng phát triển chú ý có chủ định sẽ trở nên bền vững hơn trước.
- Trí nhớ: Giai đoạn lớp 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ có từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập trung, trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý, tình cảm hay hứng thú của các em. Do đó, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được mục đích của việc ghi nhớ, chỉ cho các em đâu là điểm quan trọng của bài học mới giúp các em tránh được tình trạng học vẹt.
- Tưởng tượng Trí tưởng tượng được hình thành trong quá trình sống cùng trẻ. Trí tưởng tượng của học sinh tiểu học có những biến đổi căn bản và phát triển hơn so với thời điểm các em chưa tới trường. Về cuối cấp học cho các em đã lĩnh hội được những tri thức tương đối và đã có những kinh nghiệm phong phú nên trí tưởng tượng của các em tiến gần với hiện thực hơn. Tuy nhiên, nếu để trẻ giải quyết vấn đề bằng cách tưởng tượng thì sẽ không đạt được sự chính xác, chặt chẽ, đầy đủ.
Vì vậy, giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp để phát huy trí tưởng tượng sáng tạo, phong phú của các em. - Tư duy Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng đang dần dần chiếm ưu thế hơn. Học sinh tiếp thu tri thức các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với các ký hiệu. Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành cấu trúc tương đối ổn định và trọn vẹn: thao tác thuận và ngược.
Khái quát hóa ở giai đoạn này mang tính khái quát, học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát hóa. Học sinh xác lập mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả tốt hơn, từ kết quả đến nguyên nhân. Bởi vì khi suy luận từ nguyên nhân đến kết quả mối quan 8 hệ trực tiếp được xác lập. Ngược lại thì mối quan hệ đó được xác lập một cách không trực tiếp do một kết quả có thể có nhiều nguyên nhân.
Cấu tạo hệ thống hình học ở tiểu học chương trình 2006 Lớp 1: Điểm, đoạn thẳng, hình tròn, hình vuông, tam giác. Dùng chữ ghi hình. Điểm trong, điểm ngoài. Lớp 2: Hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc, độ dài đường gấp khúc.
Chu vi tam giác, tứ giác. Lớp 3: Góc vuông và không vuông. Các yếu tố: Đỉnh, cạnh, góc. Hình chữ nhật, hình vuông.
Chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông. Điểm giữa, trung điểm. Lớp 4: Đường thẳng song song đường thẳng vuông góc. Góc, góc nhọn, góc tù, góc bẹt.
Tỉ lệ bản đồ. Lớp 5: Hình tam giác, hình thang, hình thoi. Hình hộp chữ nhật. Hình lập phương.
Cách tính diện tích: Tam giác, hình thang, hình thoi, hình tròn; hình lập phương, hình trụ, hình cầu. Chu vi hình tròn. Công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu. Ngoài ra ở các lớp đều có học phân tích, tổng hợp hình, cắt, xếp, ghép hình và giải toán có nội dung hình học từ đơn giản đến phức tạp.
Nội dung, yêu cầu dạy học hình học trực quan và đo lường trong chương trình môn toán ở lớp 5, chương trình 2018. Nội dung Yêu cầu cần đạt HÌNH HỌC VÀ ĐO LƯỜNG Hình học trực quan Hình phẳng Quan sát, nhận biết, mô -Nhận biết được hình thang, đường và hình khối tả hình dạng cà đặc tròn, một số loại hình tam giác như: điểm của một số hình tam giác nhọn, tam giác vuông, tam phẳng và hình khối đơn giác tù, tam giác đều. giản 9 -Nhận biết được hình khai triển hình lập phương, hình hộp chữ nhật và hình trụ. Thực hành vẽ, lắp ghép, -Vẽ được hình thang, hình bình tạo hình gắn với một số hành, hình thoi (sử dụng lưới ô hình phẳng và hình khối vuông).
đã học -Vẽ được đường cao tam giác. -Vẽ được đường tròn có tâm và độ dài bán kính hoặc đường kính cho trước. -Giải quyết được một số vấn đề về đo, vẽ, lắp ghép, tạo hình gắn với một số hình phẳng và hình khối đã học, liên quan đến nội dung các môn học như Mĩ thuật, Công nghệ, Tin học. Đo lường Đo lường Biểu tượng về đại lượng -Nhận biết được các đơn vị đo diện và đơn vị đo đại lượng tích: km2 (ki-lô-mét vuông), ha (héc-ta).
-Nhận biết được “thể tích” thông qua một số biểu tượng cụ thể. -Nhận biết được một số đơn vị đo thể tích thông dụng: cm3 (xăng-ti- mét khối), dm3 (đề-xi-mét khối), m3 (mét khối) Tính toán và ước lượng - Thực hiện được việc chuyển đổi với các số đo đại lượng và tính toán các số đo thể tích (cm3, dm3, m3). 10 - Tính được diện tích hình tam giác, hình thang. - Tính được chu vi và diện tích hình tròn.
- Tính được diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích của hình hộp chữ nhật, hình lập phương. - Thực hiện được việc ước lượng thể tích trong một số trường hợp đơn giản (ví dụ: thể tích của hộp phấn viết bảng, .) - Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn liên quan đến đo thể tích, dung tích. Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học yếu tố hình học ở tiểu học a. Làm cho học sinh có những biểu tượng chính xác về một số hình hình học đơn giản và một số đại lượng hình học thông dụng Đây là một yêu cầu mới, vì trước đây, ta thường chỉ chú ý đến “hình học đo lường” như tính toán chu vi, diện tích, thể tích các hình; mà ít quan tâm đến “hình học hình dạng”.