mở đầu có thể là những câu chào hỏi, những lời xã giao để thiết lập quan hệ giao tiếp. Ví dụ 1: - Chú gác ở đây à? - Cụ cho cháu xem giấy tờ ạ! - Bác đây mà. - Bác cũng phải có giấy mà! Có giấy mới được vào mà! [22, tr 113] Việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời tạm biệt, lời hứa hẹn hoặc khuyên răn… Ví dụ 2: - Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ? - Cháu tên là Ngoan - Cậu có cái tên mới đẹp làm sao! - Cảm ơn cây.
[22, tr 96] Ví dụ 3: - Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không à? - Cảm ơn các cháu. Nhưng các cháu không giúp ông được đâu. [21, tr 62] - Quy tắc luân phiên lượt lời Các bên tham gia hội thoại phải tuân theo thứ tự lần lượt, người nói cần có người nghe và ngược lại, tránh hiện tượng tranh nhau nói như vậy sẽ không đạt hiệu quả giao tiếp. Trong hội thoại, người nói nên biết kết thúc lượt lời của mình đúng lúc để nhường lời cho người khác.
Tránh tình trạng nói quá dài, quá lâu sẽ làm cho người nghe sốt ruột và ngắt lời, hoặc vì lịch sự họ lơ đãng, không còn chú ý đến những điều người nói đang nói Ví dụ: A: Bé con đi đâu sớm thế? B: Đón thầy mo về cúng cho mẹ ốm. [25, tr 112] Trong sự luân phiên lượt lời này những cặp kế cận là lõi của cuộc hội thoại. Cặp lượt lời kế cận là những cặp có sự hoà phối chặt chẽ với nhau. 14 Ví dụ: - Con vẽ gì đấy? - Con ngựa đấy, mẹ ạ! Hay: - Tên em là gì? - Tên em là Lan.
Hai cặp lượt lời trên là hai cặp kế cận. Việc chỉ định và phân phối lượt lời sẽ không đặt ra đối với những cuộc sống đối thoại mặt đối mặt. Ở những cuộc đối thoại này thông thường người đang nói, nói xong thì người nói sau sẽ tiếp lời. Như vậy, muốn cho cuộc hội thoại có kết quả tốt thì phải vận hành quy tắc luân phiên lượt lời.
- Quy tắc liên kết hội thoại: Quy tắc liên kết hội thoại chi phối các diễn ngôn đơn thoại và cả các lời tạo thành một cuộc thoại. Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hoạt động ở lời và giữa các đơn vị hội thoại. Tính liên kết hội thoại không chỉ thể hiện ở lĩnh vực nội dung và thể hiện bằng các dấu hiệu ngữ pháp mà còn thuộc lĩnh vực hành động thể hiện trong quan hệ lập luận. Ví dụ: A: - Khoẻ không? B: - Khỏe, cảm ơn! Hành vi hỏi thăm của A đòi hỏi lời đáp của B.
Giữa hành vi ngôn ngữ của A và B có sự liên kết với nhau về nghi thức giao tiếp. Về hình thức, các lượt lời cũng cần có những dấu hiệu cụ thể. Việc dùng các phép thế, phép lặp, phép nối… chính là những dấu hiệu liên kết hội thoại về hình thức. Ví dụ: - Sao về sớm thế? - Sớm gì mà sớm.
Chín giờ rồi còn gì? Sự liên kết hội thoại này không nhất thiết phải diễn ra trong suốt cuộc thoại. Có thể việc liên kết đó chỉ diễn ra trong một mảng đề tài nào đó, nếu như cuộc thoại đó đề cập tới nhiều đề tài khác nhau. 15 - Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau: Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau là quy tắc buộc người tham dự giao tiếp phải giữ thể diện cho nhau. Tức là, khi giao tiếp, người nói không chỉ phải nói như thế nào để giữ thể diện cho mình mà còn phải nói sao để giữ thể diện cho người nghe.
Vì thế, khi hội thoại cần phải biết lựa chọn những lời nói sao cho phù hợp. Muốn vậy, khi nói nên sử dụng các biện pháp tu từ như: nói giảm, nói vòng. để tránh những xúc phạm đến thể diện của người nghe cũng như cố gắng gìn giữ thể diện của chính mình. Ví dụ: - Cậu làm ơn đóng giúp cửa lại được không? Hay - Xin lỗi nhé, xử sự của bạn chưa phải là thông minh cho lắm.
- Quy tắc khiêm tốn về phía người nói: Trong khi giao tiếp, người nói phải luôn tỏ ra khiêm nhường, tự nói giảm nhẹ đi vị thế phát ngôn của mình, tránh đề cao mình thái quá và cũng tránh nói về mình quá nhiều. Một số biểu hiện thể hiện thái độ khiêm nhường của người nói: + Dùng các từ ngữ hô, gọi hướng về phía người nghe: anh à, thưa bác… + Khi nói chuyện phải biết lắng nghe, cùng chia sẻ ý kiến với người khác, tránh ngắt lời người nói. + Không nên áp đặt suy nghĩ của bản thân mình cho người khác, cần có sự tìm hiểu, hiểu biết nào đó về người nghe trước khi nói chuyện với họ. Dùng những từ ngữ đỡ lời, khích lệ người nói trong câu chuyện tạo sự lưu thông của mạch lời: thế à, vâng, đúng thế, thật tuyệt… - Quy tắc cộng tác: Cộng tác hội thoại nghĩa là mỗi người phải góp phần của mình (về lượt lời, về nội dung) để đạt tới đích của cuộc thoại.
Các phương châm hình thành quy tắc cộng tác: + Phương châm về lượng: không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những điều không đúng với đích của cuộc thoại. 16 + Phương châm về chất: khi tham gia giao tiếp không nên nói những điều mà mình không cho là đúng hay không có bằng chứng xác thực. + Phương châm về cách thức: Khi giao tiếp cần chú ý nói ngắn gọn, rành mạch, tránh nói mơ hồ. + Phương châm về quan hệ: cần trình bày sao cho câu chuyện của mình có quan hệ tới câu chuyện được nói tới.
Các đơn vi ̣ hội thoại Hội thoại gồm những loại đơn vị sau: - Các đơn vị lưỡng thoại: là các đơn vị phải có ít nhất hai nhân vật giao tiếp cùng tạo nên. Đơn vị lưỡng thoại gồm có: + Cuộc thoại: là toàn bộ cuộc đối đáp, trò chuyện giữa các nhân vật tham dự giao tiếp kể từ khi bắt đầu tới khi kết thúc cuộc đối thoại, trò chuyện đó. Một cuộc thoại có thể có nhiều đề tài, nhiều đích hoặc cũng có thể chỉ có một đề tài hoặc một đích duy nhất. + Đoạn thoại chính là một bộ phận của cuộc thoại.
Một đoạn thoại được đánh dấu bằng một đề tài và một đích. Khi chuyển đề tài và chuyển đích ta có một đoạn thoại khác. + Cặp thoại là những cặp kế cận, gồm một hành động dẫn nhập và một hành động hồi đáp. Tuy nhiên, một cặp thoại bình thường lại nhiều hơn hai hành động.
Ví dụ: - Đã vào học chưa hả ? Đưa quyển sách Tiếng Việt đây !/ - Vừa vào học xong. - Các đơn vị đơn thoại: là những đơn vị do một người tạo ra trong một lần trao lời. Đơn vị đơn thoại gồm có: + Tham thoại: là đơn vị đơn thoại do một người nói ra cùng với các tham thoại khác lập thành một cặp thoại. + Hành vi ngôn ngữ: Đơn vị tối thiểu tạo nên một tham thoại là một hành vi ngôn ngữ.
Mỗi một tham thoại cần được đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng, phù hợp. Nhưng một tham thoại có thể do nhiều hành vi ngôn ngữ tạo nên, 17 song trong đó chỉ có một hành vi đòi hỏi người nghe phải dùng hành vi ở lời tương ứng đáp lại, còn hành động kia thì không cần. Ví dụ: - Trời nóng quá ! Mở cửa sổ ra đi Mai ơi! - Ừ, mình mở đây. Trong tham thoại thứ nhất có hai hành vi ngôn ngữ.
Hành vi thứ nhất bày tỏ ý kiến về thời tiết và hành vi thứ hai là lời đề nghị, yêu cầu mở cửa sổ. Nhưng ở hai hành vi này chỉ cần dùng một hành vi ở lời tương ứng đáp lại là đủ. Các nhân tố giao tiếp (hội thoại) Nhân tố giao tiếp là những yếu tố cùng có mặt và tham gia đồng thời vào một hoạt động giao tiếp nào đấy, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc để lại những dấu ấn trong hoạt động giao tiếp đó. Vậy có những nhân tố nào tham gia vào hoạt động giao tiếp.
Người ta thường nhắc đến các nhân tố sau đây đã tham gia và ảnh hưởng đến các cuộc giao tiếp. - Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào cuộc giao tiếp. Nhân vật giao tiếp có thể được chia làm hai loại nhân vật mà theo lý thuyết thông tin gọi là người phát (bao gồm người viết hoặc nói) và người nhận (bao gồm người đọc hoặc nghe). Có nhiều nhân tố giữa hai loại nhân vật này ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp như: trình độ và nghệ thuật nói năng của người nói; mức độ quan hệ giữa người nói và người nghe.
Để hoạt động giao tiếp luôn được diễn ra từ hai phía thì các nhân vật giao tiếp phải thực sự có nhu cầu và ý thức hợp tác với nhau trong suốt quá trình giao tiếp. Nếu một trong hai nhân vật này không có nhu cầu giao tiếp thì cuộc giao tiếp sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn. - Hiện thực được nói tới: chính là sự vật, hiện tượng, những sự kiện diễn ra trong thế giới tự nhiên và trong đời sống xã hội của con người. Hiện thực được nói tới cấu thành nội dung của cuộc giao tiếp và tạo nên đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện.
Tuỳ theo đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện mà cả hai bên lùa chọn các nội dung chi tiết và phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp. 18 - Hoàn cảnh giao tiếp: Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể. Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại: + Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử. Những yếu tố này có ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng nội dung giao tiếp và nó thường được thể hiện trong những hiểu biết, tư duy của nhân vật giao tiếp.
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm các yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khoẻ. Tồn tại trong quá trình giao tiếp. Tình huống giao tiếp tạo ra những quy định bất thành văn về cách thức nói năng, ứng xử mà mỗi thành viên tham gia giao tiếp trong hoàn cảnh đó đều phải tuân thủ thông qua các yếu tố ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc giao tiếp.
- Ngôn ngữ được sử dụng: là công cụ để cả hai bên tiến hành giao tiếp.