CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH TẠI TRƯỜNG MẦM NON. Các khái niệm liên quan 1. Thiết kế Thiết kế theo từ điển Tiếng Việt [26] có 2 nghĩa: - Nghĩa thứ nhất: Thiết kế (động từ) là làm đồ án xây dựng một bản vẽ với tất cả những tính toán cần thiết để theo đó mà xây dựng chương trình sản xuất sản phẩm.
- Nghĩa thứ hai: Thiết kế (danh từ) là lập tài liệu kỹ thuật toàn bộ, gồm có bản tính toán, bản vẽ để có thể theo đó mà xây dựng chương trình, sản xuất thiết bị. Một cách chính thức hơn, thiết kế đã được định nghĩa như sau: (danh từ) Thiết kế là sự đặc tả chi tiết một đối tượng, được thực hiện bởi một tác nhân, nhằm hoàn thành một mục đích xác định, trong một hoàn cảnh cụ thể, thông qua sử dụng tập hợp các thành phần nguyên thủy, hướng tới thỏa mãn các yêu cầu, trong khi vẫn phụ thuộc vào các ràng buộc; (động từ, ngoại động từ) hành động tạo ra một phác thảo/ kế hoạch, trong hoàn cảnh cụ thể (do nhà thiết kế thực hiện). Từ các định nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm thiết kế như sau: Thiết kế là một quá trình lập kế hoạch hoặc quy ước, là căn cứ để theo đó mà thực hiện một đối tượng hoặc một hệ thống 1. Trò chơi học tập TCHT [13] là loại trò chơi có luật và nội dung được đặt ra từ trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ, trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi.
TCHT thuộc nhóm trò chơi có luật, thường là do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ. TCHT có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian và trong trò chơi có chứa đựng các yếu tố dạy học. TCHT khác với “tiết học” ở chỗ, trong TCHT nhiệm vụ nhận thức không đặt ra một cách trực tiếp và công khai trước trẻ mà nằm trong nhiệm vụ chơi, luật chơi và 10 hành động chơi. Những nhiệm vụ chơi và hành động chơi đòi hỏi trẻ phải tích cực huy động những tri thức, kĩ năng, kỹ xảo của mình để đạt được kết quả mà trò chơi đặt ra 1.
Kỹ năng so sánh 1. Kỹ năng Có rất nhiều quan niệm, có rất nhiều cách xem xét khái niệm “kỹ năng” dưới nhiều góc độ khác nhau. Có một số khuynh hướng sau đây khi xem xét về quan niệm kỹ năng. Khuynh hướng thứ nhất xem xét kỹ năng dưới góc độ kĩ thuật của hành động.
Một số các tác giả nước ngoài ủng hộ cho khuynh hướng này như: P. Như giáo sư Trần Trọng Thủy cho rằng, kỹ năng là mặt kĩ thuật của hành động. Con người nắm được cách thức hành động nghĩa là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [15]. Hà Nhật Thăng coi kỹ năng là mặt kĩ thuật của hành động, thể hiện ra các thao tác của hành động…Những quan điểm theo khuynh hướng này đều xem xét kỹ năng thực hiện công việc của con ngưởi như là một phương thức hành động dựa trên sự hiểu biết và khả năng vận dụng chũng một cách hợp lí trong tiến trình thực hiện đúng các thao tác chứ không chú ý đến kết quả của hành động.
Khuynh hướng thứ hai xem xét kỹ năng như là năng lực của con ngưởi. Theo Paul Hersey, kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp, kĩ thuật và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có được từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo [7].Kixegop, kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống này [20].Xavie Roegier thì cho rằng: kỹ năng là khả năng thực hiện một cái gì đó, đó là một hành động được thực hiện [16]. Nguyễn Quang Uẩn, PGS.TS Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành cho rằng, KN là năng lực của con người biết vận dụng các thao tác của một hành động theo đúng quy trình[9]. Tóm lại, kỹ năng là khả năng lựa chọn những tri thức, kinh nghiệm trong hoàn cảnh cụ thể để thực hiện hoạt động một cách hiệu quả, thành thạo trên cơ sở nắm vững phương thức, cách thức hành động.
So sánh Khi bàn về khái niệm so sánh cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm nhìn nhận “so sánh” là một quá trình nhận thức, có quan điểm thì nhìn nhận “so sánh “ là một trong những thao tác tư duy cơ bản. 11 Đại điện cho khuynh hướng xem xét so sánh trong một quá trình nhận thức: “So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức[10;151] là các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang. Bên cạnh đó, các tác giả Tạ Ngọc Thanh, Nguyễn Thành Nhân cũng cho rằng: so sánh là quá trình dùng trí óc để các định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật hiện tượng, “so sánh là nhìn vào cái này để xem cái kia, để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [26]. So sánh là cách thức giúp trẻ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau trong các vật thể.
Đối với các vật cụ thể, có thể so sánh theo các bình diện như kích cỡ, hình dáng, số lượng, màu sắc,…Các khái niệm trừu tượng có thể được so sánh về chức năng, vị trí, mức độ…[14]. Tuy nhiên, đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì việc thực hiện thao tác so sánh thường được tiến hành trên những đối tượng cụ thể phù hợp với sự phát triển tư duy của trẻ. Một khuynh hướng khác là xem xét so sánh là một thao tác cơ bản của tư duy. Theo Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn thực hành giáo dục đã viết rằng: so sánh là một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu các sự vật để phát hiện ta những nét khác nhau giữa chúng [11].
Tác giả Trần Ngọc Lan cho rằng: so sánh là thao tác của tư duy, trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng (giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của một số sự vật, hiện tượng) [15]. Như vậy, so sánh là một thao tác cơ bản của tư duy nhằm giúp cho chủ thể nhận thức xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất khi xem xét các sự vật hiện tượng. Kỹ năng so sánh Trên cơ sở khái niệm “kỹ năng” và khái niệm “so sánh”, tôi cho rằng: Kỹ năng so sánh là khả năng sử dụng những tri thức, kinh nghiệm và các giác quan phù hợp để tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng một cách vững vàng, thành thạo 1. Rèn luyện kỹ năng so sánh Theo từ điển tiếng Việt, rèn luyện là dạy và cho tập nhiều lần để thành thông thạo.Xôrôkina thì việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho trẻ là một quá trình lâu dài, cơ sở của quá trình này là sự thống nhất về mối liên hệ lẫn nhau giữa 12 kiến thức với các thao tác hợp lí, với việc nắm vững từ vựng và tiếng nói.
Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo đòi hỏi có sự luyện tập theo hệ thống nhất định. Quan điểm này có sự tương ứng theo từ điển tiếng Việt đã nêu lên, việc rèn luyện để có kĩ năng, kĩ xảo là phải luyện tập nhiều lần và hệ thống nhất định-dạy. Không những thế, nhà giáo dục học K.Usinxki cũng chỉ ra rằng: “luyện tập có một ý nghĩa rất to lớn trong việc phát triển của hoạt động trí óc”, bên cạnh đó ông còn cho rằng “luyện tập là trường học của tư duy” [23] Trên cơ sở của những khái niệm trên chúng tôi cho rằng: Rèn luyện KNSS cho là sự hướng dẫn và tổ chức luyện tập giúp cho trẻ có khả năng sử dụng những tri thức, kinh nghiệm và các giác quan phù hợp để tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng một cách vững vàng, thành thạo. Hoạt động làm quen với MTXQ 1.
Hoạt động Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn [19], có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét. Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể”.
Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người khi tác động vào hiện tượng khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và vật chất của con người Dưới góc độ tâm lý học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và về phía con người. Làm quen với MTXQ - MTXQ là tất cả những gì bao quanh chúng ta như con người, tự nhiên, các đồ vật… Khái niệm này có thể nhìn nhận theo nghĩa rộng và hẹp. Hiểu theo nghĩa rộng thì MTXQ là tất cả những sự vật, hiện tượng, con người trong hành tinh mà chúng ta đang sống.
Còn hiểu theo nghĩa hẹp là những điều kiện, 13 hoàn cảnh cụ thể (con người, sự vật, hiện tượng,…) bao quanh một đối tượng cụ thể và có giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Như vậy, MTXQ bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, các yếu tố trong môi trường luôn luôn có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Dựa vào nguồn gốc hình thành xã hội loài người trên Trái Đất, các nhà khoa học đã khẳng định rằng mọi cá nhân ngay từ khi sinh ra đã có quan hệ mật thiết với MTXQ.