Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, Giáo dục Mầm non (GDMN) giữ vị trí là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu trọng tâm của GDMN hiện nay không dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức cụ thể, rời rạc, mà hướng tới việc trang bị cho trẻ năng lực nhận thức chung, khơi dậy tính ham hiểu biết, khả năng tìm tòi khám phá và rèn luyện các thao tác tư duy nền tảng như quan sát, phân tích, tổng hợp, khái quát và so sánh. Trong chương trình GDMN, hoạt động khám phá khoa học và làm quen với môi trường xung quanh (MTXQ) giữ ưu thế nổi bật trong việc kích thích trí tò mò, mở rộng vốn hiểu biết và rèn luyện tư duy logic cho trẻ em lứa tuổi mầm non.

Kỹ năng so sánh (KNSS) là một trong những kỹ năng nhận thức cơ bản, đóng vai trò là thao tác tư duy then chốt giúp trẻ xác định sự giống nhau, khác nhau, đồng nhất hay khác biệt giữa các đối tượng. Việc nắm vững kỹ năng này là tiền đề quan trọng giúp trẻ 5 – 6 tuổi phân biệt các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội một cách chính xác, chuẩn bị tâm thế vững chắc để bước vào trường phổ thông. Tuy nhiên, trong thực tiễn giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non, việc kết hợp giữa tổ chức hoạt động làm quen MTXQ và trò chơi học tập (TCHT) còn thiếu tính đồng bộ. Trẻ thường tiến hành so sánh theo thói quen trực giác, chưa nắm được tiến trình khoa học, dễ bị phân tán bởi các dấu hiệu hình thức bên ngoài mà bỏ qua các thuộc tính bản chất. Đồng thời, giáo viên mầm non chưa thực sự đầu tư vào việc hướng dẫn quy trình so sánh bài bản.

Xuất phát từ nguyên lý "học bằng chơi, chơi mà học" của lứa tuổi mẫu giáo, trò chơi học tập là phương tiện giáo dục phù hợp để chuyển tải nhiệm vụ nhận thức một cách nhẹ nhàng, kích thích tính tự giác và hứng thú của trẻ. Do đó, đề tài "Thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh" được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn và phương pháp luận sư phạm nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó thiết kế hệ thống trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.
  2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.
  3. Thiết kế và thực nghiệm sư phạm một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn Trường Mẫu giáo Hoa Mai, xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
    • Thời gian: Quá trình điều tra thực trạng được tiến hành từ tháng 02 đến tháng 03 năm 2023; khóa luận hoàn thành vào tháng 05 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc tiếp thu và hệ thống hóa các quan điểm tâm lý học và giáo dục học trong nước và quốc tế:

  • Khái niệm công cụ:

    • Thiết kế: Quá trình lập kế hoạch hoặc quy ước nhằm đặc tả chi tiết một đối tượng hay hệ thống làm căn cứ triển khai trong hoàn cảnh cụ thể.
    • Trò chơi học tập (TCHT): Loại trò chơi có luật và nội dung được xác định trước, kết hợp giữa nhiệm vụ nhận thức và hình thức chơi, nhằm mở rộng, chính xác hóa các biểu tượng và phát triển năng lực trí tuệ của trẻ. Cấu trúc TCHT gồm 3 thành tố bắt buộc: Nhiệm vụ chơi (nhiệm vụ học tập), Hành động chơi (thao tác thực hiện), Luật chơi (quy định điều khiển hành vi và đánh giá kết quả); cùng các yếu tố kết quả chơi và đồ chơi (phương tiện vật chất trực quan).
    • Kỹ năng và Kỹ năng so sánh: Tổng hợp các quan điểm của Trần Trọng Thủy, Hà Nhật Thăng (kỹ năng là mặt kỹ thuật hành động), Paul Hersey, Kixegop, Xavier Roegiers, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành (kỹ năng là năng lực vận dụng tri thức, hành động đúng quy trình). Từ đó, tác giả định nghĩa: Kỹ năng so sánh là khả năng sử dụng những tri thức, kinh nghiệm và các giác quan phù hợp để tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng một cách vững vàng, thành thạo.
    • Hoạt động làm quen với MTXQ: Dựa trên quan điểm tâm lý học của Huỳnh Văn Sơn, MTXQ bao gồm môi trường tự nhiên và xã hội. Cấu trúc một hoạt động làm quen MTXQ gồm 3 phần: Phần mở đầu (gây hứng thú, định hướng chú ý), Phần trọng tâm (trẻ tương tác trực tiếp với đối tượng để khám phá), Phần kết thúc (củng cố tri thức thông qua trò chơi, câu đố, thực hành).
  • Lý thuyết về tiến trình so sánh và tâm lý học nhận thức:

    • Nghiên cứu kế thừa quan điểm của K. Usinski ("So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy"), Saul Sternberg, Grant Evans, A. Zaporozhets về vai trò của so sánh trong tri giác đối tượng.
    • Phân tích các mô hình tiến trình so sánh: mô hình 8 bước của V. Stepanov, mô hình 2 bước của A. Liublinskaia, và mô hình của P. Lompscher (xem xét riêng từng đối tượng -> nêu đặc điểm cần so sánh -> so sánh theo từng đặc điểm -> nêu sự khác biệt).
    • Vận dụng lý thuyết về các giai đoạn hình thành hành động trí tuệ (nội tâm hóa) của P.Ya. Galperin và P. Lompscher; quan điểm của N.N. Poddyakov và Mukhina về đặc điểm nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi (bước đầu phát triển tư duy trực quan sơ đồ, nhưng khi so sánh còn thiên về các dấu hiệu bề ngoài, chưa tự phân lập được dấu hiệu bản chất nếu thiếu sự hướng dẫn).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
      • Phương pháp quan sát: Theo dõi hoạt động làm quen MTXQ và biểu hiện hành vi của trẻ 5 – 6 tuổi khi tham gia trò chơi.
      • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát dành cho 10 giáo viên mầm non trực tiếp hoặc đã từng giảng dạy khối lớp 5 – 6 tuổi.
      • Phương pháp đàm thoại, trò chuyện: Trao đổi trực tiếp với giáo viên và trẻ về các nội dung liên quan đến trò chơi học tập và hoạt động MTXQ.
      • Phương pháp khảo sát đo nghiệm: Đánh giá mức độ kỹ năng so sánh trên mẫu 24 trẻ 5 – 6 tuổi.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và đo nghiệm bằng các công thức toán thống kê (tính tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình).
  • Nguồn dữ liệu:

    • Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản chỉ đạo, hồ sơ kiểm định chất lượng và báo cáo cơ sở vật chất, nhân sự của Trường Mẫu giáo Hoa Mai (xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).
    • Dữ liệu sơ cấp: Kết quả thu được từ 10 phiếu điều tra giáo viên và phiếu đánh giá kỹ năng của 24 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường trong đợt khảo sát thực trạng tháng 02 – 03/2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh tại trường mầm non

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận khoa học cho đề tài:

  • Phân tích các khái niệm cơ bản: thiết kế, trò chơi học tập, kỹ năng, so sánh, kỹ năng so sánh, rèn luyện kỹ năng so sánh, hoạt động làm quen với môi trường xung quanh.
  • Xác định cấu trúc TCHT gồm nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi, kết quả chơi và phương tiện đồ chơi; phân loại TCHT theo mục đích rèn luyện KNSS thành 2 nhóm chính: Trò chơi tìm điểm khác biệt và Trò chơi tìm điểm tương đồng giữa các đối tượng.
  • Hệ thống hóa nội dung dạy so sánh trong chương trình MTXQ cho trẻ 5 – 6 tuổi theo 8 chủ đề: người lớn và nghề nghiệp, giáo dục tự nhận thức, đồ vật, động vật, thực vật, yếu tố tự nhiên vô sinh, hiện tượng thiên nhiên, biểu tượng về Trái Đất.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình rèn luyện KNSS của trẻ 5 – 6 tuổi:
    • Về phía trẻ: Mức độ nhận thức biểu tượng, khả năng vận động (vận động thô và vận động tinh như đong, đếm, rót nước, thao tác đồ vật), mức độ hứng thú.
    • Về phía giáo viên: Mức độ hiểu biết về tiến trình so sánh, phương pháp tổ chức hoạt động và việc tạo cơ hội cho trẻ luyện tập, ứng dụng trong thực tiễn.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh tại trường Mẫu giáo Hoa Mai – Xã Tư – Đông Giang - Quảng Nam

Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn và trình bày kết quả điều tra thực trạng tại Trường Mẫu giáo Hoa Mai (đơn vị thành lập năm 2009, đạt Chuẩn Quốc gia mức độ 1 và Kiểm định chất lượng mức độ 2 năm 2022; quy mô năm học gồm 6 lớp, 95 học sinh bán trú 100%; đội ngũ gồm 19 cán bộ, giáo viên, nhân viên với 15 giáo viên có 80% đạt trình độ đại học và 20% trung cấp):

  • Kết quả khảo sát nhận thức và thực trạng sư phạm của 10 giáo viên:
    • Nhận thức về tầm quan trọng: 70% đánh giá việc thiết kế TCHT rèn KNSS là "Rất quan trọng", 30% đánh giá "Quan trọng".
    • Nhận thức về khái niệm: 80% giáo viên hiểu đúng bản chất thao tác so sánh, 20% còn nhầm lẫn sang thao tác khái quát hóa.
    • Nhận thức về tiến trình so sánh: 70% giáo viên cho rằng tiến trình chỉ gồm 2 bước (quan sát -> tìm điểm giống và khác nhau), chỉ có 30% giáo viên xác định đúng tiến trình 3 bước (bổ sung bước trung gian: nêu các đặc điểm/tiêu chí cần so sánh).
    • Tần suất thiết kế TCHT: 50% giáo viên "Chưa bao giờ" tự thiết kế TCHT nhằm rèn KNSS, 30% "Thỉnh thoảng" và chỉ có 20% thực hiện "Thường xuyên".
    • Thực trạng sử dụng các loại phương tiện TCHT: 100% giáo viên thường xuyên sử dụng tranh ảnh; 50% sử dụng trò chơi dùng lời; 20% thường xuyên dùng mô hình; 70% không bao giờ sử dụng vật thật trong tổ chức TCHT.
  • Phân tích thực trạng mức độ phát triển kỹ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi và những khó khăn giáo viên gặp phải: hạn chế về kinh phí, thời gian làm đồ dùng trực quan, sự thiếu hụt tài liệu tham khảo chuyên biệt và phương pháp hướng dẫn tiến trình so sánh cho trẻ.

Chương 3: Thiết kế và thực nghiệm sư phạm một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh tại trường Mẫu giáo Hoa Mai – Xã Tư – Đông Giang - Quảng Nam

Chương 3 trình bày việc xây dựng và kiểm chứng hệ thống trò chơi:

  • Xác định nguyên tắc, quy trình thiết kế TCHT theo 2 nhóm kỹ năng: Nhóm trò chơi tìm điểm khác biệt và Nhóm trò chơi tìm điểm tương đồng giữa các đối tượng.
  • Xây dựng hệ thống các trò chơi học tập cụ thể tương ứng với các chủ đề trong hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non.
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm hình thành trên 2 nhóm đối tượng: Nhóm đối chứng (ĐC) và Nhóm thực nghiệm (TN). Đánh giá mức độ phát triển KNSS của trẻ thông qua việc so sánh các chỉ số trước và sau thực nghiệm (thể hiện qua hệ thống Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3 và Biểu đồ 1, Biểu đồ 2, Biểu đồ 3 trong báo cáo).

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực trạng từ kết quả khảo sát

Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu khảo sát thực trạng trên 10 giáo viên tại Trường Mẫu giáo Hoa Mai:

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của việc thiết kế TCHT rèn luyện KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi (Bảng 2.1 trong văn bản)

STT Mức độ nhận thức Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
1 Rất quan trọng 7/10 70%
2 Quan trọng 3/10 30%
3 Bình thường 0 0%
4 Không quan trọng 0 0%

Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về tiến trình so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi (Bảng 2.4 trong văn bản)

STT Tiến trình so sánh Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
1 Tiến trình 2 bước: (1) Quan sát đối tượng -> (2) Tìm đặc điểm giống và khác nhau 7/10 70%
2 Tiến trình 3 bước: (1) Quan sát đối tượng -> (2) Nêu đặc điểm cần so sánh -> (3) Tìm đặc điểm giống và khác nhau 3/10 30%

Bảng 3: Thực trạng mức độ thiết kế TCHT nhằm rèn luyện KNSS của giáo viên (Bảng 2.5 trong văn bản)

STT Mức độ thực hiện Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
1 Thường xuyên 2/10 20%
2 Thỉnh thoảng 3/10 30%
3 Chưa bao giờ 5/10 50%

Bảng 4: Thực trạng sử dụng các loại TCHT trong hoạt động làm quen MTXQ (Bảng 2.6 trong văn bản)

Loại trò chơi Thường xuyên (SL - TL%) Thỉnh thoảng (SL - TL%) Không bao giờ (SL - TL%)
Trò chơi với vật thật 0 (0%) 3/10 (30%) 7/10 (70%)
Trò chơi với tranh ảnh 10/10 (100%) 0 (0%) 0 (0%)
Trò chơi dùng lời 5/10 (50%) 5/10 (50%) 0 (0%)
Trò chơi với mô hình 2/10 (20%) 5/10 (50%)* 3/10 (30%)

(Ghi chú: Số liệu mô hình giữ nguyên theo số liệu gốc của bảng 2.6 trong văn bản).

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Khóa luận đã làm rõ cơ sở lý luận về việc rèn luyện KNSS cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TCHT trong môn MTXQ. Tác giả đã phân tích và khẳng định vai trò của tiến trình so sánh 3 bước chuẩn mực khoa học (Quan sát -> Nêu đặc điểm tiêu chí cần so sánh -> Xác định điểm giống và khác), chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc trẻ bỏ sót dấu hiệu so sánh nếu thiếu bước xác định tiêu chí trung gian.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Khóa luận phản ánh bức tranh thực trạng tại Trường Mẫu giáo Hoa Mai (xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) – một trường mầm non thuộc khu vực miền núi.
    • Chỉ rõ khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết của giáo viên (70% thấy rất quan trọng) và hành vi thực tế (50% chưa từng tự thiết kế trò chơi, 70% không dùng vật thật).
    • Đề xuất hệ thống trò chơi học tập được cấu trúc hóa theo 2 hướng (tìm điểm khác biệt và tìm điểm tương đồng), có tính ứng dụng trực tiếp trong hoạt động giáo dục tại các cơ sở mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Quy mô mẫu khảo sát thực trạng còn hạn chế: chỉ tiến hành trên 10 giáo viên và 24 trẻ 5 – 6 tuổi tại một trường mầm non duy nhất (Trường Mẫu giáo Hoa Mai, xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam).
    • Điều kiện phương tiện tại địa bàn miền núi còn thiếu thốn, dẫn đến việc khảo sát và thực nghiệm chưa triển khai rộng rãi được các TCHT sử dụng vật thật và mô hình không gian phức tạp.
    • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa tập trung trong giai đoạn tháng 02 – 03/2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm trên nhiều trường mầm non thuộc các vùng địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau (khu vực đồng bằng, đô thị).
    • Nghiên cứu sâu hơn về việc kết hợp đa dạng các nguồn học liệu trực quan (tăng cường vật thật, mẫu vật thiên nhiên có sẵn tại địa phương) và các hình thức ứng dụng công nghệ trực quan trong thiết kế TCHT rèn luyện kỹ năng so sánh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
    • Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy tại các lớp mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).
    • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non tại các phòng/sở giáo dục và đào tạo.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:

    • Bảng tiêu chí và câu hỏi khảo sát nhận thức, thực trạng tổ chức TCHT rèn luyện KNSS cho giáo viên mầm non (Phụ lục điều tra).
    • Khung lý thuyết phân tích tiến trình so sánh 3 bước và cấu trúc 3 thành phần của trò chơi học tập.
    • Hệ thống các trò chơi học tập mẫu rèn luyện kỹ năng so sánh theo các chủ đề thuộc hoạt động khám phá môi trường xung quanh cho trẻ 5 – 6 tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa kỹ năng so sánh của trẻ mầm non 5 – 6 tuổi như thế nào?
Tác giả định nghĩa kỹ năng so sánh là khả năng sử dụng những tri thức, kinh nghiệm và các giác quan phù hợp để tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng một cách vững vàng, thành thạo.

2. Điểm sai lệch phổ biến nhất trong nhận thức của giáo viên về tiến trình so sánh là gì?
Theo kết quả khảo sát tại Bảng 2.4, có 70% (7/10) giáo viên cho rằng tiến trình so sánh chỉ gồm 2 bước (quan sát -> tìm điểm giống/khác). Giáo viên đã bỏ qua bước thứ 2 ("Nêu đặc điểm cần so sánh"), khiến trẻ khi thực hiện so sánh dễ bị bỏ sót các thuộc tính quan trọng của đối tượng.

3. Vì sao tranh ảnh là loại phương tiện TCHT được 100% giáo viên lựa chọn sử dụng thường xuyên?
Theo ghi nhận từ khảo sát, giáo viên ưu tiên dùng tranh ảnh vì tranh ảnh áp dụng được cho mọi đề tài, dễ dàng cất giữ, có thể tái sử dụng nhiều lần, được nhà trường trang bị sẵn và không tốn kém chi phí cá nhân của giáo viên so với việc chuẩn bị vật thật hay mô hình.

4. Khóa luận phân loại hệ thống trò chơi học tập rèn luyện KNSS theo những nhóm nào?
Để phục vụ mục đích rèn luyện KNSS trong hoạt động làm quen MTXQ cho trẻ 5 – 6 tuổi, tác giả phân chia hệ thống TCHT thành 2 nhóm chính: (1) Nhóm trò chơi tìm điểm khác biệt giữa các đối tượng và (2) Nhóm trò chơi tìm điểm tương đồng giữa các đối tượng.

5. Địa bàn và quy mô mẫu khảo sát thực trạng của đề tài được thực hiện ở đâu?
Đề tài thực hiện khảo sát tại Trường Mẫu giáo Hoa Mai (xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) với quy mô mẫu gồm 10 giáo viên đã/đang dạy lớp 5 – 6 tuổi và 24 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2023.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hồng Loan đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về việc thiết kế trò chơi học tập nhằm rèn luyện kỹ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh. Nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết phải chuẩn hóa tiến trình so sánh 3 bước và khắc phục tình trạng lạm dụng tranh ảnh phẳng, thiếu vắng vật thật trong các trò chơi nhận thức tại trường mầm non. Hệ thống trò chơi học tập được tác giả thiết kế và thực nghiệm tại Trường Mẫu giáo Hoa Mai là tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên mầm non trong việc nâng cao chất lượng phát triển tư duy cho trẻ mẫu giáo lớn.