Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài a) Mĩ thuật Khái niệm Mĩ thuật xuất hiện đầu tiên vào giữa thế kỷ XVIII trong công trình Les Beaux Arts réduits à un même principle (Những ngành Mĩ thuật quy về một nguyên lý chung) của Charles Batteaux, ở đó Mĩ thuật được xem là nghệ thuật của cái đẹp, để phân biệt với nghệ thuật của cái có ích. Nội hàm này của khái niệm Mĩ thuật trở thành phổ biến trong nghiên cứu của các học giả trong một thế kỷ sau đó. Thuật ngữ Mĩ thuật – Fine Arts/ Beaux Arts xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX với sự ra đời của Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương- “École superieux des Beaux Arts”.
Các họa sĩ được đào tạo tại đây chủ yếu theo một hệ thống các nguyên tắc định hướng và thẩm định (nguyên tắc bố cục, tạo hình cơ bản) nhằm có được kỹ năng thuần thục với mục đích tối thượng là cái Đẹp. Từ đó trở đi, hầu hết các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt của các học giả Việt Nam đều sử dụng thuật ngữ Mĩ thuật. Ở Việt Nam và một số nước châu Á, khái niệm Mĩ thuật chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ nghệ thuật học, với 4 xu hướng định nghĩa: (1) theo cách diễn tả; (2) theo cấu trúc; (3) theo chức năng, tác dụng, đặc điểm; và cuối cùng, (4) theo ngữ nghĩa với hàm ý, Mĩ thuật là nghệ thuật của cái đẹp. Xu hướng thứ tư là một cách tiếp cận khá phổ biến.
Tuy nhiên, để định nghĩa cụ thể thì có nhiều cách diễn giải khác nhau, ngay cả trong Từ điển Tiếng Việt. Từ điển Tiếng Việt (1994) định nghĩa “Mĩ thuật” là “Nghệ thuật dùng màu sắc, hình thể để biểu hiện tình cảm, ý nghĩ của người ta như hội hoạ, điêu khắc v. Theo Từ điển Tiếng Việt (2008), “Mĩ thuật” 8 được hiểu “là miếng nghề khéo léo như vẽ, nặn tượng, sơn mài…” [15]. Một cách định nghĩa theo cách diễn tả và một cách hiểu lại chỉ dừng ở mức độ xem Mĩ thuật là những kỹ năng đạt mức độ khéo léo.
Trong Từ điển Mĩ thuật (1997), tác giả Lê Thanh Lộc xác định Mĩ thuật là từ dùng chỉ những ngành nghệ thuật “cấp cao” bất vụ lợi [12]. Định nghĩa này xuất phát từ quan điểm phân chia nghệ thuật ra làm hai ngành: nghệ thuật bất vụ lợi và nghệ thuật vụ lợi của các học giả phương Tây trong thế kỷ XIX phát triển từ Charles Batteaux. Từ điển Mĩ thuật phổ thông (2002) lại tiếp cận từ góc độ chức năng, tác dụng, đặc điểm của Mĩ thuật: “từ Mĩ thuật (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt ta nhìn thấy được, vì lý do này người ta còn dùng từ nghệ thuật thị giác để nói về Mĩ thuật” [13], tập trung đến yếu tố thụ cảm nghệ thuật bằng thị giác của Mĩ thuật. Cũng có nhiều định nghĩa về Mĩ thuật trong các giáo trình, sách thường thức Mĩ thuật, đều tiếp cận nội hàm từ cách diễn tả của loại hình này.
Các tác giả Lê Bá Dũng, Nghiêm Thị Thanh Nhã, Nguyễn Cương (2008), Đại cương về Mĩ thuật xác định Mĩ thuật: “Là một loại hình nghệ thuật tạo nên các tác phẩm trên mặt phẳng và trong không gian bằng đường nét, hình mảng, màu sắc, đậm nhạt và bằng hình khối”. Trần Tiểu Lâm, Phạm Thị Chỉnh (2007) xác định khái niệm của Mĩ thuật tổng quát hơn khi kết hợp hai cách tiếp cận: theo cách diễn tả và theo chức năng, tác dụng, đặc điểm: “Mĩ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sẽ tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng hoặc một không gian nào đấy. Mặt phẳng đó có thể là gỗ, giấy, vải, tường, trần nhà. Không gian có khi là ngoài trời, có khi là trong phòng… Ngôn ngữ Mĩ thuật bao gồm các yếu tố như hình – khối, đường nét, màu – sắc, sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu…” [10].
Như vậy, mặc dù là một khái niệm tương đối phổ biến nhưng lại có nhiều cách hiểu khác nhau. Điểm chung của hầu hết các định nghĩa này là 9 đều nhìn nhận Mĩ thuật là nghệ thuật của cái đẹp và được thụ cảm bằng yếu tố thị giác- con mắt. b) Màu sắc Màu sắc là con đẻ của ánh sáng. Màu sắc là ánh sáng.
Màu sắc mà chúng ta phân biệt từ ánh sáng là những cảm giác. Theo quang học: Khi luồng áng sáng trắng đi qua lăng kính mặt trời thì tách ra 7 sắc gồm: Vàng, cam, đỏ, lục, lam, chàm, tím. Theo hội hoạ thì màu là những chất liệu cụ thể do những sắc tố được chiết ra từ khoáng chất, hoá chất, thảo mộc. Trong Mĩ thuật, màu sắc được sử dụng để biểu hiện cảm xúc, ý nghĩa và tạo ra hiệu ứng thị giác cho tác phẩm.
Màu sắc có thể được sắp xếp, kết hợp và sử dụng để tạo ra các điểm nhấn, tạo chiều sâu và động lực cho tác phẩm nghệ thuật. Các nghệ sĩ thường sử dụng các phương tiện như màu sắc chính, màu sắc phụ, sáng tối và độ tương phản để thể hiện ý nghĩa và cảm xúc trong tác phẩm của họ. Màu sắc trong Mĩ thuật được chia thành các màu như sau: - Màu hữu sắc và màu vô sắc: Các màu trong vòng màu cơ bản và những màu phát triển từ chúng là màu hữu sắc, màu đen, màu trắng, màu xám là màu vô sắc. - Màu nóng, màu lạnh: Màu nóng, màu lạnh theo thói quen tâm lý ta gọi màu đỏ, cam, vàng là màu nóng, lục, lam, chàm, tím là màu lạnh.
Màu đỏ tím là trung gian giữa họ lạnh và họ nóng, màu lục vàng là trung gian giữa họ nóng và họ lạnh. - Màu bổ túc: là màu khi người ta nhận thấy con mắt nhìn lâu hoặc bị kích thích bởi một màu mạnh nào đó thì thường có xu hướng điều chỉnh lại giác giác để giữ cân bằng thị giác. Hoà sắc: là sự sắp xếp các tương quan của màu trong một không gian nhất định nhằm đạt được quan hệ hài hòa về màu sắc. c) Tư duy 10 Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển từ giai đoạn ấu thơ.
Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa và hành vi. Theo Tâm lý học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác. Sở dĩ có nhận định như vậy là bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu diễn ra trong trường hành động: nghĩa là những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan). Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật.
Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong. Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số học sinh lớp 3 và lớp 4, trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh. từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong. Đó là các thao tác cụ thể.
Tư duy là một hoạt động của não bộ, do đó đây cũng là cách kích thích cho não bộ phát triển, không bị ỳ trệ. Lâu dần, não bộ của trẻ được phát triển và hoàn thiện hơn. Rèn luyện tư duy mỗi ngày thông qua những kiến thức và vấn đề đơn giản ở độ tuổi này sẽ tạo nền tảng cho việc tư duy ở độ tuổi lớn hơn. Cho trẻ rèn luyện tư duy ngay từ nhỏ chính là việc cha mẹ hướng dẫn, tạo cơ hội cho các con làm quen với việc nhận thức từ đơn giản cho tới phức tạp dần.
Thực hiện một cách thường xuyên sẽ giúp thúc đẩy quá trình nhận thức ở các con diễn ra đúng đắn và hiệu quả. Trong tất cả các môn học của con, từ môn năng khiếu tới các môn khoa học, xã hội, các con đều cần đến khả năng tư duy logic và tư duy sáng tạo để có thể nắm bắt và giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, cho trẻ em luyện tập tư duy từ nhỏ sẽ giúp chuẩn bị cho các bạn một nền tảng tốt trên con đường học vấn của mình. Một trong những khả năng của tư duy sáng tạo, đó chính là khả năng ngôn ngữ.
Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cần trẻ phải tập 11 viết, tập nói, tập đọc thường xuyên và đều đặn. Qua đó, trẻ sẽ tích lũy được một kho tàng ngôn ngữ, biết cách sử dụng và vận dụng chúng một cách linh hoạt. Đây chính là cách giúp thúc đẩy phát triển ngôn ngữ, khả năng giao tiếp ở trẻ. Nội dung chương trình dạy và học môn Mĩ thuật a) Chương trình giáo dục phổ thông 2018: Mĩ thuật 3 - bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống: STT Nội dung Số tiết 1 Chủ đề 1: Em yêu mĩ thuật 1 2 Chủ đề 2: Hoa văn trên trang phục 2 3 Chủ đề 3: Màu sắc em yêu 3 4 Chủ đề 4: Vẻ đẹp của khối 3 Chủ đề 5: Một số vật liệu sử dụng trong thực hành, sáng tạo 5 3 MT 6 Chủ đề 6: Biết ơn thầy cô 4 7 Kiểm tra/ đánh giá HK 1 1 8 Chủ đề 7: Cảnh vật quanh em 4 9 Chủ đề 8: Chân dung người thân trong gia đình 4 10 Chủ đề 9: Sinh hoạt trong gia đình 4 11 Chủ đề 10: An toàn giao thông 4 12 Kiểm tra/ đánh giá cuối năm 1 13 Trưng bày sản phẩm cuối năm 1 Tổng cộng 35 1.
Mục tiêu và vai trò của môn Mĩ thuật ở Tiểu học a) Mục tiêu 12 Môn MT giúp HS bước đầu hình thành, phát triển năng lực MT thông qua các hoạt động trải nghiệm; biết thể hiện cảm xúc, trí tưởng tượng về thế giới xung quanh, từ đó hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; bước đầu làm quen, tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, hình thành năng lực tự chủ và tự học; góp phần hình thành các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.