CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12 I. Thơ, ca dao, tục ngữ. Ca dao, tục ngữ là những sáng tác của nhân dân còn thơ là những sáng tác gắn với tác giả cụ thể. Điểm chung giữa thơ và ca dao tục ngữ là đều có vần, nhạc điệu, giàu hình ảnh, kết cấu ngắn gọn dễ nhớ phản ánh nhận thức tâm tư của con người trước các hiện tượng đời sống trong đó có các hiện tượng tự nhiên.
Ví dụ như phản ánh hiện tượng tự nhiên tháng năm (âm dương lịch) ngày dài đêm ngắn, tháng mười ngày (âm dương lịch) ngắn đêm dài ca dao có câu: ‘Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng. Ngày tháng mười chưa cười đã tối’ Trong chương trình ngữ văn phổ thông các em học sinh đã được học nhiều tác phẩm thơ, học nhiều về ca dao tục ngữ về các hiện tượng, qui luật tự nhiên, ảnh hưởng của thiên nhiên đến đời sống và sản xuất của con người. Địa lí tự nhiên Hệ thống khoa học Địa lí bao gồm hai nhóm khoa học lớn là nhóm khoa học Địa lí tự nhiên và nhóm khoa học Địa lí kinh tế, xã hội. Trong chương trình lớp 10 các em được học về Địa lí tự nhiên đại cương từ bài 2 đến bài 21.
Trong chương trình lớp 12 các em được học về Địa lí tự nhiên Việt Nam từ bài 2 đến bài 15. Địa lí tự nhiên nghiên cứu các hiện tượng, quá trình tự nhiên, sự kết hợp có qui luật của các thành phần địa lí tự nhiên như địa hình, khí hậu, nước, sinh vật, đất. nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất phức tạp và tạo thành một hệ thống không thể chia cắt được. Như vậy giữa thơ, ca dao tục ngữ và Địa lí tự nhiên có sự giao hòa về nội dung: đều phản ánh nhận thức của con người về đặc điểm của sự vật hiện tượng tự GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên 2 skkn Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12 nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên và mối quan hệ giữa tự nhiên với con người.
So với Địa lí thì thơ, ca dao, tục ngữ mô tả tự nhiên mang tính chất hình ảnh, nghệ thuật làm cho người đọc, người nghe dễ nhớ hơn. Ví dụ để mô tả hiện tượng ngày ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) ca dao sử dùng hình ảnh “chưa cười đã tối”, đêm ngắn vào tháng mười (âm dương lịch) là hình ảnh “chưa nằm đã sáng”. Việc sử dụng thơ – ca dao – tục ngữ vào bài dạy là một công cụ để tạo hứng thú cho học sinh, để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khả năng vận dụng của các em vào những tình huống cụ thể phù hợp với quan điểm “học đi đôi với hành” lý thuyết gắn với thực tiễn cuộc sống. Ngược lại vận dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiện thực cuộc sống phản ánh trong thơ, trong ca dao tục ngữ.
Cơ sở thực tiễn 1. Giá trị khoa học của ca dao, tục ngữ. Ca dao tục ngữ của nhân dân ta cũng như thơ đều có một giá trị nhất định về mặt khoa học. Trong thực tiễn lao động sản xuất đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, dân tộc ta đã có một nhận thức tương đối vững vàng về các hiện tượng và qui luật của tự nhiên có liên quan trực tiếp đến đời sống và sự hoạt động sản xuất hàng ngày của mình.
Nhờ đó đã có một tác dụng nhất định trong việc đấu tranh với thiên nhiên và lợi dụng những mặt thuận lợi của thiên nhiên để bảo vệ đời sống và phát triển sản xuất trong điều kiện khoa học địa lí tự nhiên chưa hình thành. Ca dao tục ngữ là một biểu hiện thực tế về khả năng nhận thức qui luật của tự nhiên trong quá trình lao động sản xuất. Đây là cái vốn khoa học quí báu của dân tộc cần được lưu giữ và phát triển thêm nhất là các thế hệ trẻ trong đó có học sinh phổ thông. GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên 2 skkn Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12 2.
Dạy học liên môn Việc vận dụng thơ, ca dao tục ngữ trong dạy học Địa lí Tự nhiên bản chất là việc dạy học liên môn. Hiện nay việc dạy học liên môn được Bộ giáo dục và đào tạo khuyến khích triển khai xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học. Dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau.
Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác. Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan. Với học sinh, các chủ đề liên môn có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Học các chủ đề liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc.
Điều quan trọng hơn là liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn. Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do: Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên 2 skkn Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12 liên môn đó. Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học.
Dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên. CHƯƠNG 2: BIÊN SOẠN HỆ THỐNG THƠ, CA DAO, TỤC NGỮ PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10 VÀ 12 GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên 2 skkn Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12 Để thuận tiện cho việc sử dụng tài liệu cho giáo viên và học sinh đối với từng câu ca dao, tục ngữ và các trích đoạn thơ tôi đều chỉ ra nội dung địa lí được thể hiện là gì và xắp xếp chúng theo các đơn vị bài học. Lưu ý rằng mỗi câu ca dao tục ngữ hay trích đoạn thơ có thể sử dụng ở nhiều bài khác nhau. Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10 1.
Hệ Mặt trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất) Ví dụ 1 Ca dao có câu: “Thời giờ ngựa chạy, tên bay, Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm. Cụm từ “hết ngày lại đêm” phản ánh hiện tượng luân phiên ngày đêm. Lí do: Trái Đất có dạng hình cầu, Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa Trái Đất nên sinh ra hiện tượng ngày đêm.
Tuy nhiên do Trái Đất tự quay quanh trục nên mọi địa điểm trên Trái đất đều lần lượt được đưa ra ánh sáng (ngày) rồi lại khuất vào trong bóng tối (đêm). Ví dụ 2 Trong bài “Buổi sáng nhà em” Trần Đăng Khoa viết: “Ông trời nổi lửa đằng đông Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay” Câu thơ “Ông trời nổi lửa đằng đông” phản ánh hiện tượng hàng ngày Mặt Trời mọc phía Đông. Tại sao? Vì Trái Đất tự quay theo chiều từ Tây sang Đông nên ta nhìn thấy Mặt Trời mọc phía Đông và lặn phía Tây (chuyển động biểu kiến hàng ngày của Mặt Trời) Ví dụ 3 Ca dao Việt Nam có câu: GV | Trần Thị Huấn – THPT chuyên Hưng Yên 2 skkn Khai thác thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí tự nhiên lớp 10 và 12 “Con sông bên lở bên bồi. Bên lở thì đục bên bồi thì trong” Câu thơ “Con sông bên lở bên bồi” phản ánh hệ quả sự chuyển động lệch hướng của các vật thể trên Trái Đất.
Các sông chảy theo phương kinh tuyến ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ phải bị xói lở nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ trái) và ngược lại ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ trái được bồi nhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ phải). Hiện tượng dòng sông bên lở bên bồi làm cho sông ngòi không chảy thẳng mà thường uốn khúc quanh co nhất là ở Đồng bằng. Dưới góc độ khoa học, các dòng sông chảy không thẳng mà uốn khúc là do 2 nguyên nhân chính: địa hình và lực Côriôlit. Dòng sông có xu hướng chảy từ nơi có địa hình cao đến nơi có địa hình thấp, những nơi có địa hình gồ ghề thì dòng sông sẽ uốn lượn.
Lực Côriôlit là hệ quả của sự tự quay quanh trục của Trái Đất.